Kinh tụng

Kinh Lăng Nghiêm (Thủ Lăng Nghiêm)

🎧 Nghe bài này

Kinh Lăng Nghiêm — tên đầy đủ là Đại Phật Đảnh Thủ Lăng Nghiêm — do ngài Bát Lạt Mật Đế dịch từ Phạn sang Hán năm 705, đời Đường. Bộ kinh 10 quyển này dẫn dắt người tu nhận ra Chân Tâm — bản thể sáng suốt, thanh tịnh vốn có trong mỗi chúng sinh — từ đó thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi. Đây là bộ kinh Đại thừa diện rộng (gồm cả Thiền và Mật chú); với pháp môn Tịnh Độ, kinh được nối kết chủ yếu qua chương “Đại Thế Chí Bồ Tát Niệm Phật Viên Thông” — một trong Tịnh Độ Ngũ Kinh.

Giới thiệu & ý nghĩa

🔊 Nghe giải thích:

Kinh Lăng Nghiêm có tên đầy đủ là Đại Phật Đảnh Như Lai Mật Nhân Tu Chứng Liễu Nghĩa Chư Bồ Tát Vạn Hạnh Thủ Lăng Nghiêm, gồm 10 quyển, thuộc Đại Chánh Tạng (tập 19, số 945). Bộ kinh được ngài Bát Lạt Mật Đế — vị Tăng người Trung Thiên Trúc — dịch từ Phạn văn sang Hán văn năm 705, đời Đường, tại chùa Chế Chỉ, Quảng Châu; ngài Hoài Địch chứng nghĩa, cư sĩ Phòng Dung hiệu đính văn phong. Tương truyền bộ kinh bị cấm đưa ra khỏi Ấn Độ, ngài Bát Lạt Mật Đế đã chép kinh lên lụa mỏng, giấu trong thân để mang sang truyền bá — một tấm lòng hi sinh vì Pháp khiến bao thế hệ Phật tử kính ngưỡng.

"Thủ Lăng Nghiêm" mang nghĩa "Đại Định Kiên Cố" — chỉ trạng thái tam-muội bền vững, tức Phật tánh và Chân Tâm thanh tịnh sẵn có nơi mỗi người. Mục đích cốt lõi của kinh là giúp chúng sinh nhận ra Chân Tâm Thường Trụ đó: vì không nhận ra Chân Tâm nên cứ lăn lộn trong sinh tử, khổ đau không dứt.

Nội dung kinh bao gồm lời Phật chỉ bày sự khác nhau giữa chân và vọng, giảng rõ nghiệp nhân luân hồi, 57 tầng bậc tu chứng của Bồ Tát, và đặc biệt mô tả 50 trạng thái ma cảnh — để người tu biết mà không bị lạc lối. Trong kinh, Đức Phật cũng nêu hai pháp tu viên thông tiêu biểu: Bồ Tát Đại Thế Chí với pháp Niệm Phật viên thông — thích hợp cho người tu Tịnh Độ; và Bồ Tát Quán Thế Âm với pháp Nhĩ căn viên thông — lắng nghe trở vào tự tánh.

Theo kinh dạy, người thực hành đúng pháp — hiểu giáo lý và dụng tâm tu tập — mới thực sự được lợi ích trên con đường giải thoát; việc thọ trì, đọc tụng là phương tiện hỗ trợ quý báu, còn kết quả thực sự tuỳ thuộc vào tâm chí thành và nhân duyên của mỗi người.

Bà con lớn tuổi khi nghe Kinh Lăng Nghiêm, dù chưa hiểu hết từng câu, cũng hãy giữ tâm thanh tịnh, lắng lòng mà nghe, và dần dần tìm hiểu thêm ý nghĩa — vì chính sự lắng lòng kết hợp với tìm hiểu dần ấy đã là bước đầu quay về Chân Tâm mà Đức Phật muốn chỉ dạy.

Lời kinh

KINH THỦ LĂNG NGHIÊM (Đại Phật Đảnh Thủ Lăng Nghiêm) Quyển 1: Như vậy tôi được nghe trong một thời, Phật ở tịnh xá Kỳ Hoàn thành Thất La Phiệt, cùng với chúng Đại Tỳ kheo 1250 vị, đều là bậc vô lậu Đại A la hán. Các vị Phật tử trụ trì, khéo vượt trên chư hữu, ở các quốc độ đầy đủ uy nghi, theo Phật Chuyển pháp luân, có khả năng thật hiện lời di chúc nhiệm mầu của Phật, nghiêm giữ giới luật thanh tịnh để làm khuôn phép cho ba cõi, hiện thân vô số, cứu vớt chúng sanh, tột đời vị lai, khỏi các trần lụy. Các vị tên là: Đại trí Xá Lợi Phất, Ma Ha Mục Kiền Liên, Ma Ha Câu Si La, Phú Lâu Na Di Đa La Ni Tử, Tu Bồ Đề, Ưu Ba Ni Sa Đà làm thượng thủ. Lại có vô số các vị Bích chi Vô học và sơ tâm đồng đến chỗ Phật giảng đạo. Nhằm ngày các vị Tỳ kheo mãn hạ tự tứ, các vị Bồ tát, từ mười phương đến, xin Phật giải quyết nghi hoặc, kính vâng Đức Từ Nghiêm, thỉnh cầu nghĩa thâm mật. Đức Như Lai giải pháp tọa, ngồi khoan thai, vì cả trong hội tỏ bày nghĩa sâu. Chúng hội thanh tịnh được pháp chưa từng có. Giọng nói của Phật hòa nhã như tiếng chim ca lăng tầng già, nghe khắp mười phương. Hằng sa Bồ tát đều đến đạo trường, có ngài Văn Thù Sư Lợi làm thượng thủ. Khi ấy vua Ba Tư Nặc, nhân ngày kỵ phụ vương, mở tiệc chay mời Phật thụ trai nơi cung cấm; vua sắm đủ các món ăn quý báu, rồi thân đến rước Phật và các vị Đại Bồ tát. Trong thành lại có các trưởng giả cư sĩ đồng thời cùng trai tăng, chờ Phật đến chứng. Phật khiến ngài Văn Thù chia lãnh các vị Bồ Tát và A la hán đi đến các nhà trai chủ. Duy có ông A Nan trước đã nhận lời mời riêng, đi xa chưa về, không kịp dự hàng tăng chúng. Ông về một mình, không có Thượng tọa và A xà lê cùng đi và ngày ấy cũng không được ai cúng dường. Lúc bấy giờ ông cầm bình bát vào trong một thành trên đường đi, theo thứ lớp khất thực; tâm ông trước hết cầu được một người tối hậu đàn việt làm trai chủ, không kể sang hèn, phát tâm làm sao cho tất cả chúng sanh được viên thành vô lượng công đức. Ông A Nan đã biết Đức Phật Thế Tôn quở ông Tu Bồ Đề và ông Ma Ha Ca Diếp làm A la hán mà tâm không công bằng. Ông kính vâng lời dạy vô giá của Phật độ thoát mọi điều chê bai nghi hoặc. Ông đến bên thành, thong thả vào cửa, uy nghi nghiêm chỉnh, kính giữ phép hóa trai. Trong khi khất thực, ông A Nan đi qua nhà người dâm nữ Ma Đăng Già, bị phép huyễn thuật. Nàng ấy dùng tà chú Tiên Phạm Thiên của đạo Sa Tỳ Ca La bắt vào phòng riêng, dựa kề vuốt ve làm cho ông A Nan gần phá giới thể. Đức Như Lai biết ông A Nan mắc phải dâm thuật, nên dùng trai rồi, liền trở về tịnh xá. Vua cùng đại thần, trưởng giả cư sĩ đều đi theo Phật, mong nghe những pháp chủ yếu của đạo Phật. Khi ấy trên đỉnh Đức Thế Tôn, phóng hào quang bách bảo vô úy; trong hào quang hiện ra tòa sen báu nghìn cánh, có hoá thân của Phật kết già ngồi trên, tuyên đọc thần chú, khiến ngài Văn Thù đem chú nầy đến giúp đỡ, tiêu diệt tà chú, đưa ông A Nan cùng nàng Ma Đăng Già đều về chỗ Phật ở. Ông A Nan thấy Phật, đỉnh lễ khóc lóc, giận mình từ vô thủy đến nay, một bề học rộng nhớ nhiều, chưa toàn đạo lực, tha thiết xin Phật dạy cho những phép Xa ma tha, Tam ma địa, Thiền na, là những phương tiện tu hành đầu tiên để thành đạo Bồ đề của thập phương Như Lai. Lúc ấy lại có hằng sa Bồ tát, Đại A la hán và Bích chi Phật, từ mười phương đến, thảy đều mong nghe Phật dạy, lui về chỗ ngồi, yên lặng lĩnh thụ thánh chỉ của Phật. Phật bảo ông A Nan: Tôi với ông đồng phái, tình như anh em ruột; lúc ông mới phát tâm thì ở trong Phật pháp, thấy những tướng tốt gì mà bỏ được những ân ái sâu nặng thế gian? Ông A Nan bạch Phật: Tôi thấy 32 tướng của Như Lai tốt đẹp lạ thường, hình thể sáng suốt như ngọc lưu ly, thường tự suy nghĩ: Tướng ấy không thể do dục ái sanh ra, vì sao? Giống dâm dục nhơ nhớp, tanh hôi kết cấu, máu mủ xen lộn, làm sao sanh được thân vàng thắm chói trong sạch sáng suốt như vậy, nên tôi ước mong, cắt tóc theo Phật tu học. Phật dạy: Hay thay, A Nan, các ông nên biết hết thảy chúng sanh từ vô thủy đến nay sống chết nối luôn, đều do không biết thể tánh trong sạch sáng suốt của thường trụ chân tâm mà lại chỉ dùng các vọng tưởng, vì vọng tưởng đó không chân thật nên mới có luân hồi. Nay ông muốn học đạo Vô thượng Bồ đề, phát minh chân tánh thì nên lấy tâm ngay thẳng mà đáp lại những câu hỏi của tôi. thập phương Như Lai đều do một đường thoát ly sanh tử là dùng tâm ngay thẳng. Tâm mà nói là ngay thẳng thì cứ như vậy, từ địa vị đầu đến địa vị cuối cùng, chặng giữa, hẳn không có những tướng quanh co. A Nan, nay tôi hỏi ông: Đương khi ông do 32 tướng của Như Lai mà phát tâm thì ông đem cái gì mà thấy và cái gì ưa muốn? Ông A Nan bạch Phật: Thưa Thế Tôn, ưa muốn như vậy là dùng cái tâm và con mắt của tôi. Do mắt thấy tướng tốt Như Lai, tâm sanh ưa muốn nên tôi phát tâm muốn tu hành thoát khỏi sống chết. Phật bảo ông A Nan: Như lời ông nói: Thật do tâm và con mắt mà có ưa muốn. Nếu không biết tâm và con mắt ở đâu thì không thể hàng phục được trần lao; ví như ông vua một nước bị giặc xâm lấn, phát binh đánh dẹp, thì binh ấy cần biết giặc ở chỗ nào mới đánh dẹp được. Hiện ông còn mắc phải luân hồi là lỗi tại tâm và con mắt của ông. Nay tôi hỏi ông: Tâm và con mắt ấy hiện ở chỗ nào? Ông A Nan bạch Phật: Thưa Thế Tôn tất cả mười loài chúng sanh trong thế gian đều cho cái tâm hay biết là ở trong thân. Dầu tôi xem con mắt như hoa sen xanh của Như Lai cũng ở trên mặt Phật; tôi thấy con mắt vật chất của tôi ở trên mặt tôi. Như vậy thì tâm hay biết thật ở trong thân. Phật bảo ông A Nan: Hiện nay ông ngồi trong giảng đường Như Lai. Ông hãy xem rừng Kỳ Đà hiện ở chỗ nào? Thưa Thế Tôn, giảng đường cao lớn thanh tịnh này ở trong vườn Cấp Cô Độc, còn rừng Kỳ Đà hiện thật ở ngoài giảng đường. A Nan, nay ông ở trong giảng đường thì ông thấy cái gì trước? Thưa Thế Tôn, tôi ở trong giảng đường, trước thấy Như Lai, sau xem đại chúng, rồi trông ra ngoài thấy vườn rừng. A Nan, do đâu ông thấy được vườn rừng? Thưa Thế Tôn, do các cửa giảng đường mở rộng nên tôi ở trong thấy suốt được đến ra ngoài xa. Khi ấy Đức Thế Tôn, ở trong đại chúng, đưa cánh tay kim sắc xoa đầu ông A Nan, chỉ bảo ông A Nan và đại chúng rằng: Có pháp Tam ma địa tên là Đại Phật đỉnh Thủ lăng nghiêm vương, gồm đủ muôn hạnh. thập phương Như Lai đều do một Pháp môn ấy vượt lên đường diệu trang nghiêm. Ông nên chăm chú lắng nghe. Ông A Nan đỉnh lễ, kính vâng lời Phật dạy. Phật bảo ông A Nan: Như ông vừa nói: Ở trong giảng đường, do cửa mở rộng nên ông trông xa thấy được rừng vườn; phỏng có chúng sanh nào ở trong giảng đường, không thấy Như Lai mà lại thấy được ngoài giảng đường chăng? Ông A Nan bạch Phật: Thưa Thế Tôn, ở trong giảng đường không thấy Như Lai mà thấy được rừng suối ở ngoài, thật không có lẽ nào như vậy. A Nan, chính ông cũng vậy. Cái tâm của ông rõ biết hết thảy. Nếu hiện nay cái tâm rõ biết ấy thật ở trong thân thì trước hết nó phải rõ biết trong thân thể. Vậy có chúng sanh nào, trước thấy bên trong thân, rồi sau mới thấy những vật ở ngoài không? Dầu không thấy được tim gan tì vị, nhưng móng tay mọc, tóc dài ra, gân chuyển, mạch nhảy, lẽ phải rõ biết, sao lại không biết? Đã không biết bên trong, sao lại biết được bên ngoài? Vậy nên biết rằng ông nói cái tâm hay biết hiện ở trong thân, thật không có lẽ nào như vậy. Ông A Nan cúi đầu bạch Phật: Tôi nghe lời Phật dạy như vậy, mới rõ tâm tôi thật ở ngoài thân. Vì sao? Ví như đèn thắp trong phòng, trước hết phải chiếu trong phòng, rồi sau mới do nơi cửa chiếu sáng ngoài sân. Hết thảy chúng sanh không thấy bên trong thân mà riêng thấy bên ngoài, cũng như ngọn đèn, để ở ngoài phòng, không thể chiếu sáng trong phòng. Nghĩa ấy rõ ràng, có lẽ không lầm, chưa biết có đúng với nghĩa lý rốt ráo của Phật hay không? Phật bảo ông A Nan: Vừa rồi, các Tỳ kheo theo tôi khất thực trong thành Thất La Phiệt, nay đã về rừng Kỳ Đà. Tôi đã thụ trai rồi, ông hãy xem trong hàng Tỳ kheo, khi một người ăn thì các người khác có no không? Ông A Nan bạch Phật: Thưa Thế Tôn, không; vì rằng các Tỳ kheo tuy là A la hán, nhưng thân thể khác nhau, lẽ nào một người ăn lại làm cho cả chúng đều no được. Phật bảo ông A Nan: Nếu cái tâm hay biết của ông thật ở ngoài thân thì thân và tâm riêng cách, tất nhiên không dính líu gì với nhau; vậy cái gì tâm biết thì thân không thể hay, cái gì thân hay thì tâm không thể biết. Nay tôi giơ tay Đâu la miên cho ông xem, trong khi mắt ông thấy thì tâm ông có biết là tay của tôi không? Ông A Nan bạch Phật: Thưa Thế Tôn, đúng thế. Phật bảo ông A Nan: Nếu thân với tâm cùng hay biết một lúc với nhau thì làm sao tâm lại ở ngoài thân? Vậy nên biết rằng ông nói tâm hay biết hiện ở ngoài thân, thật không có lẽ nào như vậy. Ông A Nan bạch Phật: Thưa Thế Tôn, như lời Phật dạy: vì không thấy bên trong, tâm không ở trong thân, vì thân tâm cùng biết, không thể rời nhau, tâm không ở ngoài thân, nay tôi suy nghĩ, biết tâm ở một chỗ! Phật dạy: Chỗ ấy ở đâu? Ông A Nan bạch Phật: Cái tâm hay biết đã không biết bên trong mà lại thấy bên ngoài, theo ý tôi nghĩ thì nó núp sau con mắt. Ví như có người lấy chén lưu ly úp vào hai con mắt, con mắt tuy có vật úp vào nhưng không làm ngăn ngại, con mắt kia liền thấy thì liền phân biệt được ngay. Song tâm hay biết của tôi không thấy bên trong là vì tâm ở nơi con mắt; nhưng lại thấy bên ngoài rõ ràng, không bị ngăn ngại, là vì tâm núp sau con mắt. Phật bảo ông A Nan: Như ông vừa nói: Tâm núp sau con mắt như con mắt núp sau chén lưu ly; vậy người kia đương khi lấy chén lưu ly úp vào hai mắt, trông thấy núi sông thì có trông thấy chén lưu ly không? Thưa Thế Tôn, đúng thế, người ấy đương khi lấy chén lưu ly úp vào hai mắt, thật có thấy chén lưu ly. Phật bảo ông A Nan: Nếu tâm ông núp sau con mắt như con mắt núp sau chén lưu ly thì trong khi trông thấy núi sông sao không trông thấy con mắt? Nếu trông thấy con mắt thì con mắt hình như ngoại cảnh, không thể liền thấy mà liền biết được. Nếu không thấy được con mắt thì sao lại nói rằng tâm hay biết núp sau con mắt như con mắt núp sau chén lưu ly? Vậy nên biết rằng ông nói cái tâm hay biết núp sau con mắt như con mắt núp sau chén lưu ly, thật không có lẽ nào như vậy. Ông A Nan bạch Phật: Thưa Thế Tôn, nay tôi lại nghĩ như vầy: Trong thân thể chúng sanh này, phủ tạng ở trong, khiếu huyệt ở ngoài, có tạng thì tối, có khiếu thì sáng. Nay tôi trả lời Phật rằng: Mở mắt thấy sáng gọi là thấy bên ngoài, nhắm mắt thấy tối gọi là thấy bên trong. Nghĩa ấy thế nào? Phật bảo ông A Nan: Đương khi ông nhắm mắt thấy tối, cái cảnh tối ấy là đối với mắt hay không đối với mắt. Nếu đối với mắt thì cái tối trước mắt, sao lại ở trong thân? Nếu thành ở trong thân thì khi ở trong phòng tối, không có ánh sáng mặt trời, mặt trăng và đèn, cái gì ở trong phòng tối đó đều là tam tiêu lục phủ của ông hay sao? Còn như cái tối không đối với mắt, thì làm sao thành ra có thấy? Dầu tách rời lối thấy bên ngoài mà cho rằng con mắt đối vào trong nên thấy tối, thì nhắm mắt thấy tối, gọi là thấy bên trong thân; vậy mở mắt thấy sáng sao lại không thấy cái mặt. Nếu không thấy cái mặt thì cái nghĩa con mắt đối vào trong, không thành lập được. Còn như thấy được cái mặt thì cái tâm hay biết ấy và con mắt đều ở ngoài hư không, sao lại thành ở trong thân được? Nếu tâm và con mắt ở ngoài hư không thì tất nhiên không phải là thể chất của ông, vì không lẽ hiện nay Như Lai thấy mặt ông cũng là thân của ông hay sao? Và như thế thì con mắt đã biết, thân ông lẽ phải không biết. Nếu ông chấp rằng thân và con mắt đều có biết thì ông phải có hai tánh biết, rồi chính một thân ông sẽ thành hai Đức Phật hay sao? Vậy nên biết rằng ông nói thấy tối là thấy bên trong thân, thật không có lẽ nào như vậy. Ông A Nan bạch Phật: Tôi thường nghe Phật chỉ dạy tứ chúng: Do tâm sanh nên các thứ pháp sanh, do pháp sanh nên các thứ tâm sanh. Nay tôi suy nghĩ thì tức cái thể suy nghĩ đó thật là tâm tánh của tôi, hễ hợp với chỗ nào thì tâm liền có ở chỗ đó, chứ không phải ở trong, ở ngoài hay ở chặng giữa. Phật bảo ông A Nan: Nay ông nói rằng: Do pháp sanh nên các thứ tâm sanh, hễ hợp với chỗ nào thì tâm liền có ở chỗ đó. Cái tâm ấy nếu không có tự thể thì không thể hợp được; chứ còn nếu không có tự thể mà vẫn hợp được thì giới thứ 19 cùng trần thứ 7 hợp lại được hay sao? Nghĩa ấy quyết không đúng. Còn nếu có tự thể thì trong khi ông lấy tay tự gãi thân ông, cái tâm biết gãi của ông ở trong thân ra hay từ bên ngoài vào? Như ở trong thân ra thì lại phải thấy bên trong, còn như từ ngoài vào thì trước hết phải thấy cái mặt. Ông A Nan bạch Phật: Thấy là con mắt, còn tâm thì biết chứ không phải thấy như con mắt; nói tâm thấy là không đúng nghĩa. Phật dạy: Nếu con mắt thấy được thì khi ông ở trong phòng, cái cửa có thấy được không? Lại những người chết rồi, vẫn còn con mắt, lẽ ra phải thấy được vật; mà nếu thấy được vật thì sao gọi là chết. A Nan, lại nếu cái tâm hay biết của ông phải có tự thể thì có một thể hay có nhiều thể? Nay tâm ở nơi thân ông, thể ấy cùng khắp cả mình hay không cùng khắp? Nếu tâm có một thể thì ông lấy tay gãi một chi, lẽ ra cả tứ chi đều biết; mà nếu đều biết thì lại không biết gãi ở chỗ nào. Nếu biết chỗ gãi thì cái thuyết một thể của ông tự nhiên không thể thành lập được. Nếu như có nhiều thể thì thành ra nhiều người, còn biết cái thể nào là thể của ông. Nếu cái thể ấy cùng khắp cả mình thì lại như trước kia, không biết được chỗ gãi. Nếu còn như không cùng khắp thì khi ông chạm trên đầu, đồng thời cũng chạm dưới chân, hễ đầu có biết, lẽ ra chân phải không biết, nhưng hiện nay ông lại không phải như thế. Vậy nên biết rằng hễ hợp với chỗ nào, tâm liền có ở chỗ đó, thật không có lẽ nào như vậy. Ông A Nan bạch Phật: Thưa Thế Tôn, trong khi Phật nói thật tướng với các vị Pháp vương tử như ngài Văn Thù, tôi có nghe Đức Thế Tôn cũng dạy rằng: Tâm không ở trong, cũng không ở ngoài. Theo ý tôi nghĩ: Tâm ở trong thân, sao lại không thấy bên trong; tâm ở ngoài thân thì thân và tâm không cùng biết. Vì tâm không biết bên trong nên không thể nói tâm ở trong thân, vì thân và tâm cùng biết nên nói tâm ở ngoài cũng không đúng lý. Nay thân và tâm cùng biết, lại tâm không thấy được bên trong thân thì tâm phải ở chặng giữa. Phật bảo ông A Nan: Ông nói ở chặng giữa thì cái giữa ấy chắc không lẫn lộn và không phải không có chỗ. Nay ông nhận định cái giữa ấy ở chỗ nào, ở nơi cảnh hay ở nơi thân? Nếu ở nơi thân mà ở một bên thì không phải là giữa; còn nếu ở giữa thân thì cũng như ở trong thân. Nếu cái giữa ở nơi cảnh thì có thể nêu ra được hay không thể nêu ra được? Không nêu ra được thì cũng như không có cái giữa, còn nêu ra được thì lại không nhất định ở giữa. Vì sao? Ví như có người lấy một cây nêu, nêu một chỗ làm cái giữa, thì phương Đông trông qua, cái nêu lại ở phương Tây; phương Nam nhìn ra, cái nêu thành ở phương Bắc. Cái giữa nêu ra đã lẫn lộn thì tâm phải rối bời, không rõ ở đâu. Ông A Nan bạch Phật: Cái giữa của tôi nói, không phải hai thứ ấy. Như Đức Thế Tôn thường dạy: Nhãn căn và Sắc trần làm duyên, phát sanh Nhãn thức. Nhãn căn có phân biệt, Sắc trần không hay biết, Nhãn thức sanh ra ở giữa thì tâm ở chỗ đó. Phật dạy: Nếu tâm ông ở giữa căn và trần thì cái thể tâm ấy gồm cả hai bên hay không gồm cả hai bên? Nếu gồm cả hai bên thì ngoại vật và tâm thể xen lộn, còn biết tâm là gì? Ngoại vật không phải có biết như tâm thể; bên có biết, bên không biết, trái hẳn lẫn nhau thì lấy cái gì làm cái ở giữa? Gồm cả hai bên cũng không được và nếu không phải có biết và cũng không phải không biết thì tức là không có thể tánh, lấy gì làm cái tướng ở giữa. Vậy nên biết rằng ông nói cái tâm phải ở chặng giữa, thật không có lẽ nào như vậy. Ông A Nan bạch Phật: Thưa Thế Tôn, trước đây tôi thấy Phật cùng Chuyển pháp luân với 4 vị đại đệ tử là Ma Ha Mục Kiền Liên, Tu Bồ Đề, Phú Lâu Na, Xá Lợi Phất; Phật thường dạy: Cái tánh của tâm hay biết cũng chẳng ở trong, cũng chẳng ở ngoài, cũng chẳng ở chặng giữa, chẳng ở chỗ nào cả, không dính dáng vào đâu tất cả thì gọi là tâm. Vậy tôi lấy cái không dính dáng của tôi mà gọi là tâm, có được chăng? Phật bảo ông A Nan: Ông nói tánh của tâm hay biết, không ở đâu cả. Vậy các vật tượng thế gian như hư không và các loài thủy, lục, không, hành, gọi là tất cả sự vật mà ông không dính dáng vào, là có hay là không có? Không, thì đồng như lông rùa, sừng thỏ, còn gì mà không dính dáng? Đã có cái không dính dáng thì không thể gọi là không. Không có tướng thì là không, không phải không thì có tướng; có tướng thì có chỗ ở, làm sao lại không dính dáng được. Vậy nên biết rằng ông nói cái không dính dáng vào đâu tất cả gọi là tâm hay biết, thật không có lẽ nào như vậy. Khi bấy giờ ông A Nan, ở trong đại chúng, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, trật vai áo bên phải, đầu gối bên phải chấm đất, chấp tay cung kính mà bạch Phật rằng: Tôi là em rất nhỏ của Như Lai, nhờ Phật thương yêu, nay tuy được xuất gia, còn ỷ lại nơi lòng thương của Phật. Vì vậy nên tôi học rộng nghe nhiều mà chưa chứng quả vô lậu, không uốn dẹp được chú Sa Tỳ Ca La, bị nó bắt phải vào nhà dâm nữ; nguyên do là vì không biết đường tu tập đi đến chỗ chân thật. Cầu xin Thế Tôn đại từ thương xót, chỉ dạy cho chúng tôi đường tu Xa ma tha, cũng khiến cho những ngưòi không tin trừ bỏ những tư tưởng xấu. Ông A Nan nói như vậy rồi, năm vóc gieo xuống đất, cùng với đại chúng, hết lòng mong được nghe lời Phật dạy. Khi bấy giờ Đức Thế Tôn, từ trước mặt, phóng ra các thứ hào quang, hào quang ấy chói sáng như trăm nghìn mặt trời, khắp các thế giới chư Phật, sáu thứ rung động, như thật các cõi nước mười phương, nhiều như vi trần, hiện ra trong một lúc. Oai thần của Phật khiến các thế giới hợp lại thành một thế giới. Trong thế giới nầy, tất cả các vị Bồ tát hiện có, đều an trụ nơi nước mình, chấp tay vâng nghe lời Phật dạy. Phật bảo ông A Nan: Tất cả chúng sanh từ vô thủy đến nay điên đảo nhiều cách, giống nghiệp tự nhiên nhóm lại như chum quả ác xoa. Những người tu hành không thành được đạo Vô thượng Bồ đề, đến nỗi lại thành Thanh văn, Duyên giác hoặc thành ngoại đạo, chư thiên, Ma vương hay bà con Ma, đều do không biết hai chữ cỗi gốc, tu tập sai lầm, cũng như nấu cát mà muốn thành cơm, dầu trải qua nhiều kiếp như vi trần, rốt cuộc vẫn không thể thành được. Thế nào là hai thứ cỗi gốc? A Nan! Một là cái cỗi gốc sống chết vô thủy, tức như ông ngày nay cùng các chúng sanh dùng cái tâm phan duyên mà làm tự tánh. Hai là cái thể bản lai thanh tịnh Bồ đề Niết bàn vô thủy thì như hiện nay cái tánh bản minh thức tánh của ông, sanh ra các duyên ma lại bị bỏ rơi. Do các chúng sanh bỏ rơi cái bản minh ấy nên tuy cả ngày sống trong tánh bản minh mà không tự giác, oan uổng vào trong lục đạo. A Nan, nay ông muốn biết đường tu Xa ma tha ra khỏi sống chết, tôi lại hỏi ông. Liền đó Đức Như Lai giơ cánh tay kim sắc, co năm ngón tay, bảo ông A Nan: Ông có thấy không? Ông A Nan bạch Phật: Thấy. Phật bảo: Ông thấy cái gì? Ông A Nan bạch: Tôi thấy Như Lai giơ cánh tay, co ngón tay thành nắm tay sáng ngời, chói tâm và con mắt của tôi. Phật bảo: Ông đem cái gì mà thấy? Ông A Nan bạch: Tôi cùng đại chúng đều đem con mắt mà thấy. Phật bảo ông A Nan: Ông trả lời tôi rằng Như Lai co ngón tay làm thành nắm tay sáng ngời, chói tâm và con mắt của ông; con mắt ông thì thấy được, còn ông lấy cái gì làm tâm để đối với cái nắm tay chói sáng của tôi? Ông A Nan bạch: Như Lai hiện nay gạn hỏi tâm ở chỗ nào, tôi thì dùng tâm suy nghĩ tìm xét: Tức cái biết suy nghĩ ấy, tôi lấy nó làm tâm. Phật bảo: Sai rồi, A Nan, cái ấy không phải là tâm của ông. Ông A Nan giựt mình, rời chỗ ngồi, chấp tay đứng dậy bạch Phật: Cái ấy không phải là tâm tôi thì gọi là cái gì? Phật bảo ông A Nan: Cái ấy là cái tưởng tượng những tướng giả dối tiền trần, nó làm mê lầm chân tánh của ông. Do từ vô thủy cho đến đời này, ông nhận tên giặc ấy làm con, bỏ mất tánh bản lai thường trụ nên phải chịu luân hồi. Ông A Nan bạch Phật: Thưa Thế Tôn, tôi là em yêu của Phật, vì tâm yêu Phật nên tôi xuất gia. Tâm tôi chẳng những cúng dường Đức Như Lai, mà còn trải qua hằng sa quốc độ, thừa sự chư Phật và các vị thiện tri thức; phát lòng đại dũng mãnh, làm tất cả những pháp sự khó làm, là đều dùng cái tâm ấy. Dầu cho hủy báng Phật pháp, rời bỏ hẳn thiện căn, cũng nhân cái tâm ấy. Nay Phật phát minh cái ấy không phải là tâm thì tôi thành không có tâm, như cây như đất, vì ngoài cái hay biết ấy ra, tôi lại không còn gì nữa. Sao Đức Như Lai lại bảo cái ấy không phải là tâm? Tôi thật kinh sợ và cả trong đại chúng nầy không ai là không nghi hoặc, xin Phật rủ lòng từ bi, chỉ dạy cho những chỗ chưa Giác ngộ. Khi bấy giờ Đức Thế Tôn chỉ dạy ông A Nan và cả đại chúng, khiến cho tâm được Vô sanh Pháp nhẫn, nơi sư tử tọa, xoa đầu ông A Nan và bảo ông rằng: Như Lai thường nói: Các pháp phát sanh là duy tâm biến hiện, tất cả nhân quả, thế giới, vi trần, đều nhân cái tâm thành có thể tánh. A Nan, như trong các thế giới, hết thảy sự vật hiện có, cả đến ngọn cỏ lá, cây, sợi dây, thắt nút, gạn xét cỗi gốc, đều có thể tánh, dầu cho hư không cũng có tên, có tướng; huống chi cái tâm sáng suốt thanh tịnh nhiệm mầu, làm cho hết thảy sự vật có thể tánh mà tự mình lại không có thể tánh. Nếu ông quyết chấp cái tánh hay biết suy xét phân biệt là tâm của ông thì cái tâm ấy phải rời sự nghiệp các trần: sắc, thanh, hương, vị, xúc, riêng có toàn tánh; chứ như hiện nay ông vâng nghe pháp âm của tôi, đó là nhân cái tiếng mà có phân biệt: dầu cho diệt hết tất cả cái thấy, nghe, hay, biết, bên trong nắm giữ cái u nhàn, không biết, không nghĩ thì đó cũng còn là sự phân biệt bóng dáng Pháp trần mà thôi. Chẳng phải tôi bảo ông chấp cái ấy không phải là tâm, nhưng ông phải, chính nơi tâm ông, suy xét chín chắn, nếu rời tiền trần có tánh phân biệt, thì đó mới thật là tâm của ông. Nếu tánh phân biệt, rời tiền trần, không còn tự thể thì nó chỉ là sự phân biệt bóng dáng tiền trần. Tiền trần không phải thường trụ, khi thay đổi diệt mất rồi, thì cái tâm nương vào tiền trần ấy cũng đồng như lông rùa sừng thỏ và Pháp thân của ông cũng thành như đoạn diệt, còn gì mà tu chứng Vô sanh Pháp nhẫn. Lúc ấy ông A Nan cùng cả đại chúng lặng im ngơ ngác. Phật bảo ông A Nan: Trong thế gian, tất cả những người tu học, hiện tuy đã tu đến chín bậc định, nhưng không diệt hết được mê lầm, thành A la hán, đều do chấp cái vọng tưởng sống chết, lầm nó là tánh chân thật, vậy nên nay ông tuy được học rộng nghe nhiều, không thành chánh quả. Ông A Nan nghe rồi, lại đau xót khóc lóc, năm vóc gieo xuống đất, quỳ dài chấp tay mà bạch Phật rằng: Từ khi tôi theo Phật phát tâm xuất gia, ỷ thị oai thần của Phật, thường tự mình suy nghĩ, không cần phải tu, hầu như cho rằng Đức Như Lai sẽ ban cho phép Tam ma địa, không biết thân tâm vốn không thay thế nhau được; bỏ mất bản tâm của tôi; thân tuy xuất gia nhưng tâm không đi vào chính đạo, cũng như người con cùng khổ, bỏ cha trốn lánh. Ngày nay mới biết, tuy được nghe Phật pháp nhiều, nếu không tu hành thì chẳng khác gì người không nghe, cũng như người ta nói ăn mà không ăn, rốt cuộc không thể no được. Thưa Thế Tôn, chúng tôi hiện nay còn bị hai chướng ràng buộc, do vì không biết tâm tánh yên lặng thường trụ, xin Đức Như Lai thương xót kẻ nghèo khó rách rưới, phát khởi tâm nhiệm mầu sáng suốt, mở đạo nhãn cho chúng tôi. Lúc ấy Đức Như Lai từ chữ Vạn trước ngực, phóng ra hào quang báu, hào quang ấy rực rỡ có trăm nghìn sắc, sáng khắp một lúc tất cả thế giới chư Phật mười phương số như vi trần. Hào quang soi khắp trên đỉnh các Đức Như Lai thập phương bảo sát, xoay về soi đến ông A Nan và cả đại chúng, rồi Phật bảo ông A Nan rằng: Nay tôi vì ông dựng pháp tràng lớn, đồng thời khiến cho tất cả thập phương chúng sanh được tâm tánh nhiệm mầu sâu kín, trong sạch, sáng suốt và đạo nhãn thanh tịnh. A Nan, trước ông trả lời rằng thấy nắm tay chói sáng, cái chói sáng nắm tay ấy do đâu mà có, làm sao thành ra nắm tay, ông đem cái gì mà thấy? Ông A Nan bạch: Toàn thân Phật như vàng Diêm Phù Đàn, sáng ngời như núi báu, do đức tánh thanh tịnh sanh ra nên có hào quang chói sáng. Thật tôi lấy con mắt mà thấy năm ngón tay Phật co nắm lại, giơ cho người xem, nên có tướng nắm tay. Phật bảo ông A Nan: Như Lai ngày nay xác thật bảo ông. Những người có trí cần do ví dụ mà được khai ngộ. A Nan, ví như nắm tay tôi, nếu không có bàn tay tôi thì không thành nắm tay tôi, lại nếu không có con mắt ông, thì không thành cái thấy của ông. Lấy cái thấy của ông mà so sánh với nắm tay của tôi, ý nghĩa có cân nhau không? Ông A Nan bạch Phật: Đúng vậy, thưa Thế Tôn, đã không có con mắt của tôi thì không thành cái thấy của tôi, đem cái thấy của tôi so với nắm tay Như Lai, sự nghĩa giống nhau không khác. Phật bảo ông A Nan: Ông nói giống nhau, nghĩa ấy không đúng. Vì sao? Như người không có bàn tay thì tuyệt nhiên không có nắm tay; chứ người không có con mắt kia, không phải hoàn toàn không thấy. Là vì làm sao? Ông thử ra đường hỏi những người đui: Anh thấy cái gì? Thì những người đui kia chắc sẽ trả lời: Hiện nay trước mắt tôi chỉ thấy tối đen, không thấy gì khác. Lấy cái nghĩa ấy mà xét thì tiền trần tự tối, chứ cái thấy nào có hao kém gì. Ông A Nan bạch Phật: Những người đui trước mắt chỉ thấy tối đen, sao gọi là thấy được. Phật bảo ông A Nan: Các người đui không có con mắt chỉ thấy tối đen, so với người có con mắt ở trong nhà tối thì hai cái tối đen ấy khác nhau hay không khác nhau? Thật vậy, thưa Thế Tôn, người ở trong nhà tối với những người đui kia, so sánh hai cái tối đen thật không thể khác nhau. A Nan, nếu người không có con mắt, thấy trước hoàn toàn tối đen, bỗng nhiên được con mắt sáng, trở lại thấy các thứ sắc nơi tiền trần mà gọi là con mắt thấy; thì người ở trong nhà tối kia, thấy trước hoàn toàn tối đen, bỗng nhiên được cái đèn sáng, cũng thấy các thứ sắc nơi tiền trần, lẽ ra phải gọi là cái đèn thấy. Nếu như cái đèn thấy thì đèn đã thấy được, tự nhiên không thể gọi là đèn; lại cái đèn nó thấy thì dính líu gì đến ông. Vậy nên biết rằng đèn làm tỏ các sắc, nhưng thấy như vậy là mắt chứ không phải đèn; mắt làm tỏ các sắc, nhưng thấy như vậy là tâm chứ không phải mắt. Ông A Nan tuy được lời Phật dạy như vậy, cùng với đại chúng, miệng tuy im lặng, tâm chưa khai ngộ, còn mong Đức Như Lai từ tâm chỉ bày, chấp tay sạch lòng, đợi Phật dạy bảo. Khi bấy giờ Đức Thế Tôn ruỗi tay Đâu la miên sáng ngời, mở năm ngón tay, bảo ông A Nan và đại chúng rằng: Lúc tôi mới thành đạo, ở trong Lộc viên, có dạy bọn ông A Nhã Đa, năm vị Tỳ kheo và tứ chúng rằng: Tất cả chúng sanh không thành đạo Bồ đề và A la hán, là do những phiền não khách trần mê hoặc. Thuở đó, bọn ông do đâu mà khai ngộ, hiện nay thành được Thánh quả? Khi ấy ông Kiều Trần Na đứng dậy bạch Phật: Tôi nay già cả, ở trong đại chúng, riêng được cái danh là Hiểu, do tôi ngộ được hai chữ khách trần mà thành chính quả. Bạch Thế Tôn, ví như người khách đi đường, vào trọ quán xá, hoặc ngủ hoặc ăn, ăn ngủ xong rồi, xếp đồ lên đường, không ở yên được; nếu thật là người chủ, tự nhiên không phải đi đâu. Tôi nghĩ như vầy: Không ở yên thì gọi là khách, còn ở yên thì gọi là chủ. Tôi lấy cái không ở yên làm ý nghĩa chữ khách. Lại như mới tạnh, mặt trời chiếu sáng trên cao, ánh sáng vào trong lỗ hỡ, bày tỏ hình dáng bụi trần giữa hư không. Trần thì lay động, hư không thì yên lặng. Tôi nghĩ như vậy: Đứng lặng gọi là không, lay động gọi là trần, tôi lấy cái lay động làm ý nghĩa chữ trần. Phật dạy: Đúng thế. Khi bấy giờ Đức Như Lai ở trong đại chúng co năm ngón tay, co rồi lại mở, mở rồi lại co, bảo ông A Nan rằng: Nay ông thấy gì? Ông A Nan đáp: Tôi thấy bàn tay Bách bảo luân của Như Lai, ở trong chúng, lúc mở lúc nắm. Phật bảo ông A Nan: Ông thấy tay tôi ở trong chúng khi mở khi nắm, đó là tay tôi có mở có nắm hay là cái thấy của ông có mở có nắm? Ông A Nan bạch: Bàn tay báu của Thế Tôn ở trong chúng khi mở khi nắm; tôi thấy bàn tay Như Lai tự mở tự nắm, chứ không phải tánh thấy của tôi có mở có nắm. Phật bảo: Cái gì động, cái gì tĩnh? Ông A Nan bạch: Bàn tay Phật không ở yên, chứ tánh thấy của tôi còn không có tĩnh, lấy gì gọi là không ở yên nữa. Phật dạy: Đúng thế. Lúc ấy Đức Như Lai từ trong bàn tay, phát một đạo hào quang báu qua bên phải ông A Nan, ông A Nan liền quay đầu trông qua bên phải, Phật lại phát một đạo hào quang qua bên trái ông A Nan, ông A Nan lại cũng quay đầu trông qua bên trái. Phật bảo ông A Nan: Hôm nay đầu ông vì sao lại lay động? Ông A Nan bạch: Tôi thấy Đức Như Lai phát hào quang báu qua bên trái và qua bên phải của tôi nên tôi trông qua bên trái bên phải, đầu tự lay động. A Nan, ông trông hào quang của Phật mà lay động cái đầu, quay qua bên phải bên trái, đó là cái đầu của ông động hay là cái thấy động? Thưa Thế Tôn, đầu tôi tự động chứ tánh thấy của tôi còn không ở đâu, lấy gì mà lay động. Phật dạy: Đúng thế. Lúc bấy giờ Đức Như Lai bảo với vả đại chúng rằng: Như các chúng sanh lấy cái lay động mà gọi là trần, lấy cái không ở yên mà gọi là khách, thì các ông hãy xem ông A Nan, đầu tự lay động mà cái thấy không lay động, lại hãy xem bàn tay tôi tự mở tự nắm mà cái thấy không ruỗi không co. Làm sao các ông hiện nay lại lấy cái động làm thân, lấy cái động làm cảnh, tự đầu đến cuối, niệm niệm sanh diệt, bỏ mất chân tánh, làm việc trái ngược; tâm tánh mất chỗ chân thật, nhận vật làm mình, xoay vần trong ấy, tự nhận lấy cái trôi lăn trong lục đạo. NAM MÔ LĂNG NGHIÊM HỘI THƯỢNG PHẬT BỒ TÁT MA HA TÁT Quyển 2: Khi bấy giờ ông A Nan cùng cả đại chúng nghe lời Phật dạy, thân tâm thư thái, nghĩ mình từ vô thủy đến nay, bỏ mất bản tâm, lầm nhận sự phân biệt bóng dáng tiền trần làm tâm, ngày nay được khai ngộ như em bé mất sữa, bỗng gặp mẹ hiền, chấp tay lễ Phật, xin Đức Như Lai, ở nơi thân tâm, chỉ ra chỗ chân chỗ vọng, chỗ hư chỗ thật, ở nơi hiện tiền phát minh ra hai tánh sanh diệt, và không sanh diệt. Khi ấy vua Ba Tư Nặc đứng dậy bạch Phật: Trước tôi chưa được vâng nghe lời Phật dạy bảo, tôi thấy bọn Ca Chiên Diên, Tỳ La Chi Tử đều nói thân này chết rồi là mất hẳn và gọi đó là Niết bàn; nay tuy được gặp Phật nhưng tôi vẩn còn hồ nghi, xin Phật chỉ rõ thế nào chứng biết tánh không sanh diệt nơi tâm này. Hiện nay các hàng hữu lậu trong đại chúng cũng đều trông mong được nghe điều ấy. Phật bảo: Đại vương, thân ông hiện đó, nay tôi hỏi ông: Cái nhục thân đó của ông có như kim cang thường còn, không hư hỏng hay lại cũng biến đổi và tan rã? Bạch Thế Tôn, thân tôi hiện nay rốt cuộc về sau cũng thay đổi và tiêu diệt. Phật bảo: Đại vương, ông chưa hề bị diệt, làm sao lại biết được là phải diệt? Bạch Thế Tôn, cái thân vô thường thay đổi của tôi đây, tuy chưa hề bị diệt; song tôi xét nó hiện nay niệm niệm dời đổi, mãi mãi không thôi như lửa thành tro, lần lần tiêu mất; vì tiêu mất, mãi mãi không dừng nên tôi biết chắc thân này rồi phải diệt mất. Phật dạy: Đúng thế, đại vương, tuổi tác của ông nay đã già yếu, vậy mặt mày của ông so với lúc còn bé thì như thế nào? Bạch Thế Tôn, lúc tôi bé nhỏ, da thịt mớn mơ, đến khi trưởng thành, huyết khí sung túc; nay thì tuổi già, ngày thêm suy yếu, hình sắc khô gầy, tinh thần lẫn lộn, tóc bạc mặt nhăn, chừng sống không được bao lâu nữa, so sánh sao được với lúc đương còn trẻ mạnh! Phật bảo: Đại vương, hình dung của ông, nào phải đương trẻ mà già liền đâu? Vua bạch: Thưa Thế Tôn, sự biến hóa thầm thầm dời đổi, tôi thật không hay; nắng mưa thấm thoát, lần đến thế nầy. Vì sao? Khi 20 tuổi, tuy gọi là trẻ, nhưng mặt mày của tôi đã già hơn khi 10 tuổi; khi 30 tuổi lại sút hơn lúc 20 tuổi và đến nay đã 60 lại thêm hai tuổi, trông lại lúc 50 tuổi, còn khỏe mạnh hơn nhiều. Bạch Thế Tôn, tôi thấy thầm thầm dời đổi như thế; thân nầy đến nay tuy đã suy yếu, nhưng trong sự thay đổi, còn chia từng 10 năm. Nếu tôi suy xét chín chắn hơn nữa thì cái biến đổi ấy đâu phải từng một kỷ, thật là mỗi năm mỗi thay đổi; lại đâu mỗi năm mỗi thay đổi mà cũng là mỗi tháng mỗi biến hóa; lại không những mỗi tháng mỗi biến hóa mà còn mỗi ngày mỗi đổi thay; xét cho cùng, nghĩ cho kỹ, trong mỗi sát na, trong mỗi niệm, nó không thể đứng yên, vậy nên tôi biết thân tôi rốt cuộc phải biến đổi và tiêu diệt. Phật bảo: Đại vương, ông thấy biến hóa dời đổi không ngừng, ngộ biết là phải diệt; vậy trong lúc diệt đó, ông có biết trong thân có cái gì không diệt chăng? Vua Ba Tư Nặc chấp tay bạch Phật: Thật tôi không biết. Phật bảo: Nay tôi chỉ cho ông cái tánh không sanh diệt, đại vương, khi ông mấy tuổi, mới thấy nước sông Hằng. Vua bạch: Khi tôi ba tuổi, mẹ tôi dắt đi yết lễ thần Kỳ Bà Thiên thì đã đi qua sông ấy; lúc đó tôi liền biết là nước sông Hằng. Phật bảo: Đại vương, như lời ông nói: Lúc 20 tuổi thì sút hơn lúc lên 10, cho đến nay đã 60 tuổi, từng năm, từng tháng, từng ngày, từng giờ, dời đổi mãi mãi; vậy khi ông 3 tuổi thấy nước sông ấy, rồi đến khi 13 tuổi thì nước ấy thế nào? Vua bạch: Tôi thấy nước ấy cũng giống khi 3 tuổi, như nhau không khác và đến nay tuổi đã 62, cũng vẫn không khác. Phật bảo: Nay ông xét mình đầu bạc mặt nhăn, mặt ông chắc là nhăn hơn lúc trẻ; vậy cái thấy hiện nay của ông thấy sông Hằng so với cái thấy lúc nhỏ thấy sông Hằng, có già trẻ gì không? Vua bạch: Thưa Thế Tôn, không. Phật bảo: Đại vương, mặt ông tuy nhăn, nhưng cái thấy đó chưa hề bị nhăn; cái bị nhăn thì thay đổi, còn cái không bị nhăn thì không có thay đổi. Cái thay đổi thì phải diệt, còn cái không thay đổi kia, vốn không sanh diệt, làm sao trong ấy, lại nhận sống cái chết của ông, mà ông còn dẫn những thuyết của bọn Mạt Già Lê kia bảo rằng thân này chết rồi diệt hẳn. Vua nghe lời Phật dạy như vậy, tin biết về sau bỏ thân nầy qua thân khác, cùng với đại chúng nhẩy nhót vui mừng, được cái chưa từng có. Ông A Nan liền từ chỗ ngồi đứng dậy, lễ Phật chấp tay, quỳ dài bạch Phật: Thưa Thế Tôn, nếu cái thấy nghe đó thật không sanh diệt thì làm sao Đức Thế Tôn lại gọi bọn chúng tôi bỏ mất chân tánh, làm việc trái ngược? Xin Phật mở lòng từ bi, rửa sạch trần cấu cho chúng tôi. Khi ấy Đức Như Lai ruỗi cánh tay kim sắc, ngón tay chỉ xuống, bảo ông A Nan rằng: Ông nay thấy tay Mẫu đà la tôi là chính hay là ngược? Ông A Nan bạch: Chúng sanh thế gian cho đó là ngược, còn tôi thì không biết thế nào là chính, thế nào là ngược. Phật bảo ông A Nan: Nếu người thế gian cho đó là ngược, thì người thế gian gọi thế nào là chính? Ông A Nan bạch Phật: Đức Như Lai đưa cánh tay lên, tay Đâu la miên chỉ lên trên không thì gọi là chính. Phật liền giơ cánh tay lên và bảo ông A Nan rằng: Cái trái ngược như thế, chỉ là đầu đuôi thay đổi lẫn nhau; các người thế gian lắp đi lắp lại mà xem thấy. Nay lấy cái thân ông và Pháp thân thanh tịnh của chư Như Lai, so theo đó mà phát minh, thì thân của Như Lai gọi là chánh biến tri, thân của các ông gọi là tánh trái ngược; tùy ông xét kỹ nơi thân ông và thân Phật, cái gọi là trái ngược đó, do ở chỗ nào mà gọi là trái ngược? Khi ấy ông A Nan cùng cả đại chúng chăm chăm ngó Phật, tròng con mắt không lay động, chẳng biết thân tâm chỗ nào trái ngược. Phật phát lòng từ bi, thương xót ông A Nan và đại chúng, phát tiếng hải triều, khắp bảo trong hội: Các Thiện nam tử, tôi thường nói rằng: Sắc, tâm, các duyên và các tâm sở, các pháp sở duyên, đều duy tâm tánh biến hiện. Thân ông, tâm ông đều là những vật hiện ra trong tâm tánh. Làm sao các ông lại bỏ mất tâm tánh quý báu ấy, nhận cái mê trong ngộ. Mê muội thành có hư không, trong hư không mê muội ấy, kết cái mê muội thành ra có sắc; sắc xen với vọng tưởng; tưởng tướng làm thân, nhóm các duyên lay động bên trong, giong ruổi theo cảnh vật bên ngoài; rồi lấy cái tướng mờ mịt lăng xăng đó làm tâm tánh. Một phen lầm cái tướng ấy làm tâm thì quyết định lầm cho rằng tâm ở trong sắc thân, mà không biết sắc thân, cho đến núi sông, hư không, đất liền bên ngoài đều là những vật hiện trong tâm tánh; ví như bỏ cả trăm nghìn biển lớn trong lặng, chỉ nhận một cái bọt nước; rồi cho nó là toàn hết cả nước, cùng tột các biển lớn. Bọn ông tức là những người mê lầm nhiều lớp, như cánh tay tôi rủ xuống, không có sai khác. Như Lai gọi là đáng thương xót đó. Ông A Nan vâng nghe lời Phật từ bi cứu độ dạy bảo, khóc lóc tréo tay mà bạch Phật rằng: Tuy tôi vâng nghe diệu âm của Phật như vậy, ngộ được chỗ thường trụ viên mãn sẵn có của tâm tánh, nhưng tôi ngộ được pháp âm của Phật vừa dạy là tôi hiện lấy tâm phan duyên mà thỏa mãn chỗ ước mong. Tôi luống được tâm ấy, chưa dám nhận là tâm tánh bản lai; mong Phật thương xót, tuyên lời viên âm, nhổ gốc nghi ngờ của tôi, đem về đạo vô thượng. Phật bảo ông A Nan: Bọn ông còn lấy tâm phan duyên mà nghe pháp thì cái pháp nhận được đó cũng chỉ là sở duyên, chứ không phải nhận được pháp tánh. Ví như có người lấy ngón tay chỉ mặt trăng cho người khác thì người kia lẽ ra phải nhân ngón tay mà thấy mặt trăng. Nếu như người kia xem ngón tay và cho đó là mặt trăng thì người ấy chẳng những bỏ mất mặt trăng mà cũng bỏ mất cả ngón tay chỉ nữa. Vì sao? Vì nhận ngón tay chỉ làm mặt trăng vậy. Đâu những bỏ mất ngón tay lại cũng không phân biệt được sáng và tối. Vì sao? Vì lấy ngón tay tối làm mặt trăng sáng thì không rõ biết được hai tánh sáng tối. Ông cũng như vậy. Nếu lấy cái phân biệt pháp âm tôi làm tâm của ông thì cái tâm ấy phải rời cái phân biệt tiếng nói, có tánh phân biệt. Ví như người khách ngủ trọ quán trạm, ở tạm rồi đi, rốt cuộc ở mãi không được, còn người giữ trạm thì không đi đâu, gọi là chủ trạm. Tâm cũng như vậy, nếu thật tâm ông thì không đi đâu, làm sao rời cái tiếng, lại không có tánh phân biệt? Nói như thế chẳng những đối với tâm phân biệt các tiếng; cái phân biệt hình dung của tôi, rời các sắc tướng, cũng không có tánh phân biệt; như vậy cho đến cái phân biệt đều không, không phải sắc, không phải không, mà bọn Câu Xá Ly lầm là minh đế, thì rời các Pháp trần, cũng không tánh phân biệt. Như vậy tâm tánh của ông đều có chỗ trả về, lấy gì mà làm chủ? Ông A Nan bạch: Như tâm tánh của tôi đều có chỗ trả về, thì tâm tánh của Như Lai dạy, làm sao lại không có chỗ trả về? Xin Phật thương xót chỉ bảo cho tôi điều ấy. Phật bảo ông A Nan: Hãy lấy cái tánh thấy của ông thấy tôi đây. Tánh thấy ấy tuy không phải là tâm tánh như mặt trăng thứ hai không phải thật là mặt trăng. Ông hãy nghe cho chín, nay tôi chỉ cho ông cái nghĩa không thể trả về. A Nan, đại giảng đường nầy mở rộng phương Đông, khi mặt trời lên thì sáng, nửa đêm vắng trăng, mây mù mờ mịt thì lại tối tăm; chỗ có các cửa thì thấy thông suốt; chỗ có tường nhà thì thấy ngăn bịt; chỗ phân biệt được, thấy cảnh sắc duyên; trong chỗ rỗng trống, toàn là hư không; cảnh tượng mù mịt khi bụi nổi lên; mưa tạnh trời thanh lại thấy trong sạch. A Nan, ông đều xem rõ các tướng biến hóa ấy, nay tôi trả các tướng ấy về chỗ bản nhân của nó. Thế nào là bản nhân? A Nan, trong các tướng biến hóa, cái sáng trả về cho mặt trời. Vì sao? Vì không mặt trời thì không sáng, nguyên nhân cái sáng thuộc về mặt trời, cho nên trả cho mặt trời. Cái tối trả về cho trăng tối, thông suốt trả về cho các cửa, ngăn bịt trả về cho tường nhà, sắc duyên trả về cho phân biệt, rỗng trống trả về cho hư không, mù mịt trả về cho bụi, trong sáng trả về cho tạnh, và trong thế gian có những cái gì, cũng không ra ngoài mấy loại ấy. Còn cái tánh thấy của ông thấy tám thứ kia thì ông định trả về đâu. Vì sao? Nếu trả về cho sáng thì lúc không sáng lại không thấy tối, nay tuy các thứ sáng tối có sai khác, cái thấy không có sai khác. Các cái thấy có thể trả về tự nhiên không phải là ông, còn cái không thể trả về được thì không phải là ông mà là ai nữa? Vậy thì biết tâm ông vốn là nhiệm mầu trong sạch sáng suốt, ông tự mê lầm, bỏ mất tánh bản nhiên mà chịu luân hồi, thường bị chìm đắm trong bể sống chết, nên Như Lai gọi là đáng thương xót. Ông A Nan bạch: Tuy tôi biết tánh thấy ấy không thể trả về đâu, nhưng làm sao biết được đó là chân tánh của tôi. Phật bảo ông A Nan: Nay tôi lại hỏi ông: Hiện ông chưa được đạo quả vô lậu thanh tịnh, nhờ thần lực của Phật, mới thấy được cõi Sơ Thiền, không bị ngăn ngại. Ông A Na Luật thì thấy cõi Diêm Phù Đề như xem quả am ma la trong bàn tay. Các vị Bồ tát thấy trăm nghìn cõi thập phương Như Lai, cùng tột các quốc độ thanh tịnh, số như vi trần, không chỗ nào không thấy. Còn chúng sanh thì thấy rõ được không quá gang tấc. A Nan, nay tôi cùng ông hãy xem cung điện của Tứ Thiên vương, chặng giữa xem khắp các loài thủy, lục, không, hành, tuy có nhiều hình tượng sáng tối khác nhau, nhưng không cái gì là không phải tiền trần chia cắt ngăn ngại. Ông hãy ở nơi đó phân biệt cái gì là mình, cái gì là vật khác. Nay tôi hãy đưa ông lựa trong sự thấy đó, cái gì là tâm thể của ông, cái gì là cái hình tượng của vật. A Nan, cùng tột sức thấy của ông, từ mặt trời, mặt trăng đều là vật, chứ không phải ông; đến Thất Kim sơn, xem xét cùng khắp, tuy có những thứ hào quang nhưng cũng là vật chứ không phải là ông; lần lần xem đến mây kéo, chim bay, gió động, bụi nổi, cây cối núi sông, cỏ rác người vật, đều là vật chứ không phải là ông. A Nan, các vật gần xa đó, tuy sai khác nhau, nhưng đồng do cái thấy của ông thanh tịnh trông thấy, thì các thứ vật kia tự có sai khác mà tánh thấy của ông không có sai khác. Cái thấy nhiệm mầu sáng suốt đó thật là tánh thấy của ông. Nếu cái thấy là vật thì ông cũng có thể thấy cái thấy của tôi. Nếu cho rằng đồng thấy sự vật là thấy cái thấy của tôi thì khi tôi không thấy, sao lại không thấy được cái chỗ không thấy của tôi? Nếu nói rằng thấy cái không thấy thì tự nhiên cái đó không phải là cái tướng của cái không thấy; còn nếu không thấy được chỗ không thấy của tôi, thì cái thấy bản nhiên không phải là vật, làm sao lại không phải là ông? Lại như cái thấy là vật thì đương khi ông thấy vật đó, ông đã thấy được vật, vật cũng thấy được ông, thế thì thể tánh xen lộn và ông cùng tôi với cả thế gian không thành lập được. A Nan, nếu khi ông thấy là chính ông thấy, chứ không phải tôi, thì cái thấy cùng khắp đó không phải là ông thì còn là ai nữa. Làm sao lại tự nghi cái chân tánh của ông. Chân tánh của ông, ông không tự nhận lấy, lại chấp lời nói của tôi, mà cầu chứng thật. Ông A Nan bạch Phật rằng: Thưa Thế Tôn, nếu cái tánh thấy đó chắc là tôi, chứ không phải ai khác, thì khi tôi cùng Như Lai xem cung điện quý báo của Tứ Thiên vương, xem mặt trời mặt trăng, cái thấy ấy cùng khắp cả cõi Ta Bà, khi lui về tịnh xá thì chỉ thấy cảnh vườn chùa, đến khi thanh tâm nơi phòng chái thì lại chỉ thấy một chái nhà. Thưa Thế Tôn, cái thấy như vậy, bản thể của nó cùng khắp một cõi, nay ở trong phòng thì chỉ thấy một phòng; thế là cái thấy rút lớn thành nhỏ hay là tường nhà chia cắt làm cho đứt đoạn. Nay tôi không biết nghĩa đó thế nào, xin Phật vì tôi từ bi chỉ rõ. Phật bảo ông A Nan: Tất cả các thứ trong, ngoài, lớn nhỏ của thế gian đều thuộc về tiền trần, không nên nói rằng cái thấy có co có ruỗi. Ví như trong đồ vuông thì thấy hư không vuông; nay tôi hỏi ông: Cái hư không vuông thấy được trong đồ vuông ấy, là nhất định vuông hay không nhất định vuông? Nếu nhất định vuông thì khi thay đồ tròn vào, lẽ ra hư không tròn; nếu không nhất định thì trong đồ vuông, lẽ ra không có hư không vuông. Ông nói không biết nghĩa đó do đâu, nghĩa đó như vậy, sao còn do đâu được. A Nan, nếu muốn nhận được tánh không vuông không tròn, chỉ trừ bỏ cái vuông của đồ đạc, chứ bản thể hư không vốn không vuông, không nên nói rằng lại phải trừ cả cái vuông của hư không nữa. Lại như lời ông hỏi: Khi vào trong phòng, rút cái thấy làm cho nhỏ lại thì khi ngửa xem mặt trời, há lại kéo cái thấy ngang với mặt trời? Nếu xây tường nhà chia cắt cái thấy làm cho đứt đoạn, thì đến khi xoi một lỗ nhỏ, sao lại không thấy dấu nối. Nghĩa ấy không đúng. Tất cả chúng sanh từ vô thủy đến nay, lầm mình là vật, bỏ mất tâm tánh, bị vật xoay chuyển, cho nên trong đó thấy lớn thấy nhỏ. Nếu biết chuyển được vật thì đồng với Như Lai, thân tâm đều viên mãn sáng suốt, nơi đạo tràng bất động đó, trên đầu một mảy lông cũng có thể trùm chứa thập phương quốc độ. Ông A Nan bạch Phật rằng: Thưa Thế Tôn, nếu cái thấy đó, chắc là chân tánh của tôi thì cái chân tánh đó, hiện ở trước mắt tôi; cái thấy đó đã là chân tánh của tôi thì thân tâm tôi, hiện nay, lại là vật gì? Mà nay thân tâm ấy thật có phân biệt, còn cái thấy kia thì không phân biệt riêng gì thân tôi. Nếu nó thật là tâm tôi, làm cho tôi hiện nay có thấy, vậy tánh thấy ấy đã thật là tôi, còn thân nầy không phải là tôi thì nào khác gì Đức Như Lai trước kia đã hỏi vặn rằng: Vật thấy được tôi. Xin Phật rủ lòng đại từ, chỉ bày cho chỗ chưa ngộ. Phật bảo ông A Nan: Nay ông nói rằng: Cái thấy ở trước mắt ông, nghĩa ấy không đúng. Nếu thật ở trước mắt ông và ông thật thấy được thì cái thấy đó đã có chỗ ở, không phải không chỉ ra được. Vậy nay tôi cùng ông ngồi trong rừng Kỳ Đà, trông khắp rừng, suối với các điện, đường, trên đến mặt trời, mặt trăng, trước đối với sông Hằng. Nay ông hãy ở trước sư tử tọa của tôi, giơ tay chỉ bày trong các tướng kia, chỗ râm là rừng, cái sáng là mặt trời, ngăn ngại là vách, thông suốt là hư không, như thế cho đến cỏ cây, mảy mún, tuy lớn nhỏ khác nhau, nhưng đã có hình thì không cái gì là không chỉ đích ra được. Vậy nếu cái thấy, hiện ở trước mắt ông thì ông hãy lấy tay chỉ rõ đích xác cái gì là cái thấy. A Nan, ông nên biết, nếu hư không là cái thấy, thì hư không đã thành cái thấy, còn cái gì mới là hư không; nếu vật là cái thấy, thì vật đã là cái thấy, còn cái gì mới là vật. Ông hãy chín chắn chia chẻ trong muôn hiện tượng, tách ra cái thấy, chỉ bày cho tôi như các vật kia, rõ ràng không lầm lẫn. Ông A Nan bạch: Nay tôi ở giảng đường nầy, trông xa đến sông Hằng, trên đến mặt trời, mặt trăng, giơ tay chỉ ra, đưa mắt trông ra, thì những cái chỉ được đều là vật, chứ không có cái gì là cái thấy. Bạch Thế Tôn, như lời Phật vừa dạy, chẳng những hàng hữu lậu sơ học Thanh văn như chúng tôi, mà cho đến các vị Bồ tát cũng không thể, ở nơi hiện tượng muôn vật, chỉ ra cái thấy, rời tất cả vật, riêng có tự tánh. Phật dạy: Đúng thế, đúng thế. Phật lại bảo ông A Nan: Như lời ông nói: Không có cái thấy, rời tất cả vật, riêng có tự tánh; thì trong tất cả các vật đã chỉ được, không có cái gì là cái thấy cả. Nay tôi lại bảo ông: Ông cùng Như Lai ngồi trong rừng Kỳ Đà, lại xem rừng vườn cho đến mặt trời mặt trăng, nhiều thứ hình tượng khác nhau, trong đó, chắc không có cái thấy mà ông có thể chỉ ra được. Vậy ông hãy phát minh trong các vật đó, có cái gì ra ngoài cái thấy? Ông A Nan bạch: Thật tôi thấy khắp rừng Kỳ Đà nầy, không biết trong đó có cái gì ra ngoài cái thấy. Vì sao? Nếu cái cây ra ngoài cái thấy thì sao lại thấy cây, còn nếu cái cây tức là cái thấy thì sao lại là cây; như thế cho đến nếu hư không ra ngoài cái thấy, thì sao thấy được hư không, còn nếu hư không tức là cái thấy, thì sao lại là hư không. Tôi lại suy nghĩ, phát minh chín chắn trong muôn hình tượng, thật không có cái gì ra ngoài cái thấy cả. Phật dạy: Đúng thế, đúng thế. Khi ấy trong đại chúng, những vị chưa chứng quả Vô học, nghe Phật dạy như thế, mờ mịt chẳng biết nghĩa ấy đầu đuôi thế nào, nên đồng thời sợ hãi, không giữ được tâm thanh tịnh. Đức Như Lai biết đại chúng tâm niệm rối loạn, sanh lòng thương xót, an ủi ông A Nan và cả đại chúng rằng: Các Thiện nam tử, bậc Vô thượng pháp vương, lời nói chân thật, như tánh chân như mà nói, không lừa không dối, không phải như bốn thứ luận nghị càn giỡ bất tử của bọn Mạt Già Lê; ông hãy suy nghĩ cho chín chắn, chớ phụ lòng thương mến của tôi. Lúc ấy ngài Pháp vương tử Văn Thù Sư Lợi thương xót hàng tứ chúng, ở trong đại chúng, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đỉnh lễ chân Phật, chấp tay cung kính mà bạch Phật rằng: Thưa Thế Tôn, đại chúng nầy không ngộ được chỗ Đức Như Lai phát minh ra hai nghĩa thị và phi thị nơi hai thứ cái thấy và sắc không. Bạch Thế Tôn, nếu những hiện tượng sắc không nơi tiền cảnh, tức là cái thấy, thì lẽ ra có chỗ chỉ được, còn nếu ra ngoài cái thấy, thì lẽ ra không thể thấy được; mà nay đại chúng không rõ nghĩa ấy do đâu, nên mới kinh sợ, chứ không phải vì trước đây thiện căn ít ỏi. Kính mong Đức Như Lai thương xót, phát minh cho rõ các vật tượng ấy và cái thấy ấy vốn là vật gì, mà ở trong đó, lại không có các nghĩa thị và phi thị. Phật bảo ngài Văn Thù cùng cả đại chúng rằng: thập phương Như Lai và các vị Đại Bồ tát ở trong tự trụ Tam ma địa, thì cái thấy, cái bị thấy và các tương tướng hoa đốm hư không, vốn không có gì. Cái thấy và cái bị thấy đó vốn là tâm tánh Bồ đề nhiệm mầu trong sạch sáng suốt, làm sao trong đó, lại còn có các nghĩa thị và phi thị? Văn Thù, nay tôi hỏi ông: Như ông đây là Văn Thù, nơi ông lại có cái tức là Văn Thù hay không có Văn Thù? Bạch Thế Tôn, đúng thế. Tôi đây thật là Văn Thù, nơi tôi không có cái gì tức là Văn Thù, vì sao? Vì nếu có cái ấy, thì thành ra hai Văn Thù, nhưng tôi hiện nay không phải là không Văn Thù; trong đó thật không có hai tướng thị và phi thị. Phật bảo: Tánh thấy nhiệm mầu sáng suốt với các thứ sắc, không thì cũng như vậy. Vốn một tâm tánh Vô thượng Bồ đề, lầm nhận là sắc, không cùng với nghe, thấy, như dụi con mắt, thấy có hai mặt trăng, thì mặt trăng nào mới thật là mặt trăng, còn mặt trăng nào lại không phải là mặt trăng. Văn Thù, chỉ có một mặt trăng thật, trong ấy tự không có cái gì thật là mặt trăng hay không phải là mặt trăng. Vậy nên hiện nay, các ông phát minh ra các thứ xem thấy và trần cảnh, đều gọi là vọng tưởng, không thể ở trong đó, chỉ ra các nghĩa thị và phi thị. Nhưng do tất cả đều là tâm tánh nhiệm mầu sáng suốt nên có thể làm cho các ông ra ngoài các nghĩa chỉ được và không chỉ được. Ông A Nan bạch Phật rằng: Thưa Thế Tôn, thật như lời pháp vương dạy, tâm tánh cùng khắp thập phương thế giới, yên lặng thường trụ, không có sanh diệt; điều ấy so với thuyết ông Phạm chí Sa Tỳ Ca La ngày xưa nói về minh đế, hay các thuyết ngoại đạo như bọn Đầu Khôi nói có chân ngã cùng khắp mười phương, khác nhau thế nào? Ở núi Lăng Già, Đức Thế Tôn đã từng, vì các ông Đại Huệ, chỉ dạy rằng: Bọn ngoại đạo kia thường nói tự nhiên, còn Phật nói nhân duyên, không phải cảnh giới của bọn kia. Nay tôi xét cái tâm tánh đó tự nhiên, không phải sanh, không phải diệt, xa rời tất cả các điều trái ngược, luống dối, giống như không phải là nhân duyên, cũng không phải là cái tự nhiên của bọn kia. Xin Phật khai thị thế nào, cho chúng tôi khỏi mắc tà kiến và được tâm tánh trong sạch nhiệm mầu sáng suốt. Phật bảo ông A Nan: Nay tôi phương tiện chỉ bày, chân thật bảo ông như vậy, ông còn chưa ngộ, lại lầm là tự nhiên. A Nan, nếu chắc là tự nhiên, tự phải chỉ rõ thể tánh tự nhiên. Ông hãy xét cái tánh thấy kia lấy cái gì làm tự thể. Cái thấy đó lại là lấy cái sáng làm tự thể, lấy cái tối làm tự thể, lấy hư không làm tự thể hay lấy ngăn bịt làm tự thể. A Nan, nếu lấy cái sáng làm tự thể thì lẽ ra không thấy được tối, nếu lấy hư không làm tự thể thì lẽ ra không thấy được ngăn bịt, như vậy cho đến lấy các tướng tối mà làm tự thể thì đến khi sáng, tánh thấy đã diệt mất rồi, làm sao còn thấy được sáng ? Ông A Nan bạch: Chắc cái tánh thấy ấy không phải là tự nhiên, thì nay tôi phát minh được, nó do nhân duyên mà sanh; nhưng tâm còn chưa rõ, xin hỏi Đức Như Lai, nghĩa lý thế nào cho hợp với tánh nhân duyên. Phật dạy: Ông nói nhân duyên, tôi lại hỏi ông: Nay ông do nhân duyên mà có thấy; tánh thấy hiện trước đó, vậy tánh thấy, ấy lại là nhân cái sáng mà có thấy, nhân cái tối mà có thấy, nhân hư không mà có thấy hay nhân ngăn bịt mà có thấy? A Nan, nếu tánh thấy nhân cái sáng mà có, thì lẽ ra không thấy được tối, còn như nhân cái tối mà có, thì lẽ ra không được sáng; như vậy cho đến nhân hư không, nhân ngăn bịt, thì cũng đồng như nhân cái sáng và cái tối. Lại nữa, A Nan, cái thấy ấy lại là nương cái sáng mà có thấy, nương cái tối mà có thấy, nương hư không mà có thấy hay là nương ngăn bịt mà có thấy? A Nan, nếu nương hư không mà có thấy, thì lẽ ra không thấy được ngăn bịt; nếu nương ngăn bịt mà có thấy, thì lẽ ra không thấy được hư không; như vậy cho đến nương cái sáng, nương cái tối cũng đồng như nương hư không, nương ngăn bịt. Nên biết tánh thấy như vậy, không phải nhân, không phải duyên, không phải tự nhiên, cũng không phải không tự nhiên, không có nghĩa không phải hay không không phải, không có nghĩa tức là hay không tức là, rời hết tất cả các tướng, tức là tất cả sự vật; làm sao trong ấy, ông lại định đem các danh tướng hí luận thế gian mà phân biệt cho được. Thế cũng như lấy bàn tay, nắm bắt hư không, chỉ thêm nhọc sức, chứ làm sao hư không lại để cho ông nắm bắt. Ông A Nan bạch Phật rằng: Thưa Thế Tôn, chắc cái tâm tánh ấy, không phải nhân duyên, thế sao Đức Thế Tôn lại thường chỉ dạy cho các hàng Tỳ kheo rằng: Tánh thấy có bốn thứ nhân duyên, nghĩa là nhân hư không, nhân ánh sáng, nhân cái tâm và nhân con mắt. Nghĩa đó thế nào? Phật bảo: A Nan, tôi nói như thế là nói về các tướng nhân duyên thế gian, đó không phải là đệ nhất nghĩa. A Nan, tôi lại hỏi ông: Các người thế gian nói: Tôi thấy được, thì thế nào, họ gọi là thấy, còn thế nào, họ gọi là không thấy? Ông A Nan bạch: Người đời nhân ánh sáng mặt trời, mặt trăng và đèn, thấy các hình tướng, thì gọi là thấy, còn nếu không có ba thứ ánh sáng đó, thì không thể thấy được. A Nan, nếu khi không sáng mà gọi là không thấy, thì lẽ ra không thấy được tối; nếu đã thấy được tối, thì khi đó, chỉ là không sáng, chứ đâu phải là không thấy. A Nan, nếu trong lúc tối, vì không thấy sáng mà gọi là không thấy; vậy nay, trong lúc sáng, không thấy cái tối, thì lại cũng phải gọi là không thấy; thế thì cả hai lúc sáng, tối, cũng đều gọi là không thấy cả. Còn nếu như hai cái sáng và tối tự lấn át nhau, chứ không phải trong đó, tánh thấy của ông tạm thời không có; thế thì biết cả hai lúc đều gọi là thấy, chứ sao lại gọi là không thấy. A Nan, vì vậy ông nên biết rằng: Trong lúc thấy sáng, cái thấy không phải là cái sáng, trong lúc thấy tối, cái thấy không phải là cái tối, trong lúc thấy hư không, cái thấy không phải là hư không, trong lúc thấy ngăn bịt, cái thấy không phải là ngăn bịt. Bốn nghĩa đó đã thành lập rồi, ông lại nên biết: Khi nhận thấy tánh thấy thì tánh thấy không phải là cái thấy. Tánh thấy còn rời cả cái thấy và cái thấy không thể đến nơi tánh thấy được; làm sao, ông còn nói đến những nhân duyên, tự nhiên và tướng hòa hợp? Bọn Thanh văn ông hẹp hòi không biết, không thông suốt được sự thật thanh tịnh, nay tôi chỉ dạy cho ông, ông nên khéo suy nghĩ, không được trễ nãi trên đường Bồ đề nhiệm mầu. Ông A Nan bạch Phật rằng: Thưa Thế Tôn, như Đức Thế Tôn, vì bọn chúng tôi, chỉ dạy về nhân duyên, tự nhiên các tướng hòa hợp và không hòa hợp, tâm tôi còn chưa khai ngộ; nay lại nghe Phật dạy nhận thấy tánh thấy không phải là cái thấy thì càng thêm lúng túng, cúi xin Phật thương xót, bố thí cho con mắt đại trí huệ, chỉ bày cho chúng tôi tâm tánh trong sạch sáng suốt. Ông A Nan nói như vậy rồi, khóc lóc đỉnh lễ, vâng nghe thánh chỉ của Phật. Khi bấy giờ. Đức Thế Tôn thương xót ông A Nan và cả đại chúng, định sẽ chỉ dạy phép đại tổng trì là con đường tu hành nhiệm mầu các pháp Tam ma địa, bảo ông A Nan rằng: Ông tuy nhớ lâu, chỉ thêm phần học rộng, nhưng nơi vi mật quán chiếu Xa ma tha, tâm còn chưa rõ. Nay ông hãy nghe cho chín chắn, tôi sẽ vì ông phân tích chỉ bày, đồng thời cũng khiến cho những kẻ hữu lậu tương lai được quả Bồ đề. A Nan, tất cả chúng sanh luân hồi trong thế gian đều do hai nhận thức sai lầm, phân biệt trái ngược, chính nơi tâm tánh mà phát sanh, chính theo nghiệp báo mà xoay vần. Hai nhận thức ấy là gì? Một là nhận thức sai lầm nghiệp riêng của chúng sanh. Hai là nhận thức sai lầm nghiệp chung của chúng sanh. Thế nào gọi là nhận thức sai lầm nghiệp riêng? A Nan, như người thế gian, con mắt bị bệnh lòa thì ban đêm trông ngọn đèn, riêng có thấy bóng tròn ngũ sắc bao phủ. Ý ông nghĩ thế nào? Cái bóng tròn hiện ra nơi ngọn đèn, đó, là sắc của ngọn đèn hay là sắc của cái thấy? A Nan, nếu như là cái sắc của ngọn đèn, thì sao những người không lòa lại không cùng thấy, mà chỉ có người lòa mới thấy bóng tròn. Nếu như là sắc của cái thấy, thì cái thấy đã thành sắc rồi, còn cái người lòa kia thấy được bóng tròn thì gọi là cái gì? Lại nữa, A Nan, nếu cái bóng tròn kia ngoài ngọn đèn, riêng mình tự có, thì lẽ ra khi trông qua bình phong, bức màn, bàn trà, ghế ngồi, đều có bóng tròn hiện ra; còn nếu ngoài cái thấy, bóng tròn, riêng mình tự có, thì lẽ ra không thể thấy được, làm sao người lòa lại thấy bóng tròn. Vậy nên biết rằng: Sắc thật ở nơi ngọn đèn, cái thấy bị bệnh làm ra có bóng tròn. Cả cái bóng tròn và cái thấy bóng tròn đều là bệnh lòa. Nhận thấy được bệnh lòa thì cái nhận thấy đó không phải là bệnh; rốt cuộc không nên nói rằng bóng tròn là ngọn đèn hay là cái thấy, trong đó còn có bệnh lòa không phải ngọn đèn, không phải cái thấy. Ví như mặt trăng thứ hai, không phải thật thể mặt trăng và cũng không phải là cái bóng của mặt trăng. Vì sao? Vì thấy có mặt trăng thứ hai là do dụi mắt mà thành ra vậy. Các người có trí, không nên bảo rằng mặt trăng dụi mắt mà thành ra đó, là hình tướng hay không phải là hình tướng, là ra ngoài cái thấy hay không ra ngoài cái thấy. Bóng tròn cũng như vậy, nó do bệnh lòa mắt mà thành; nay dầu muốn gọi cái gì là ngọn đèn hay là cái thấy cũng không được, huống nữa, còn phân biệt là không phải nhọn đèn hay không phải là cái thấy! Thế nào gọi là nhận thức sai lầm nghiệp chung? A Nan, cõi Diêm Phù Đề này, trừ nước biển cả ra, trong đó đất bằng có 3000 châu, châu lớn chính giữa, bao quát từ Đông sang Tây, có đến 2300 nước lớn. Còn các châu nhỏ khác ở trong các biển, trong đó có châu đến 200, 300 nước hoặc có một chục, hai chục, cho đến 30, 40, 50 nước. A Nan, nếu ở trong đó có một châu nhỏ, chỉ có hai nước, mà riêng người trong một nước đồng cảm ác duyên, thì chúng sanh trong nước đó thấy tất cả những cảnh giới không tốt; hoặc thấy hai mặt trời, hoặc thấy hai mặt trăng, cho đến thấy nhiều ác tướng khác, như vựng, thích, bội, quyết, huệ, bột, phi, lưu, phụ nhĩ, hồng nghê; chỉ nước đó thấy, còn chúng sanh nước bên kia, thì vốn không thấy và cũng không nghe. A Nan, tôi nay đem hai việc đó, lui tới kết hợp mà chỉ rõ. A Nan, như cái nhận thức sai lầm nghiệp riêng của chúng sanh kia, thấy nơi ngọn đèn hiện ra bóng tròn, tuy giống như tiền cảnh, nhưng rốt cuộc là do bệnh lòa của người ấy tạo thành. Lòa là bệnh của cái thấy, không phải do sắc tướng tạo ra; song người nhận thấy được bệnh lòa vẫn không có lỗi lầm gì về cái thấy cả. So sánh với hiện nay, ông dùng con mắt xem thấy núi sông, cõi nước và các chúng sanh, đều là do bệnh thấy vô thủy tạo thành. Cái thấy và cái bị thấy duyên nhau, hình như hiện ra tiền cảnh, thật chất vốn là bệnh lòa, năng kiến sở kiến của tâm tánh mà thôi. Giác ngộ rằng thấy như thế tức là bệnh lòa, thì cái tâm Giác ngộ đó nhận thức không lòa. Giác ngộ thấy như thế là bệnh lòa, thì cái Giác ngộ đó không phải trong phạm vi bệnh lòa; đó thật là nhận thấy tánh thấy, sao còn gọi là thấy, nghe, hay, biết. Vậy nên nay ông thấy tôi cùng ông và thập loại chúng sanh trong thế gian đều là thấy lòa, chứ không phải là thấy được cái bị bệnh lòa. Cái tánh thấy chân thật kia, vốn ra ngoài bệnh lòa, cho nên không gọi là cái thấy. A Nan, như lấy nhận thức sai lầm nghiệp chung kia của chúng sanh, so với nhận thức sai lầm nghiệp riêng của một người, thì một người đau mắt cũng đồng như cả một nước kia; người đau mắt thấy bóng tròn là do bệnh lòa giả dối sanh ra; còn trong một nước kia, hiện ra các thứ không tốt là do ác duyên nghiệp chung của chúng sanh tạo nên; cả hai đều do nhận thức sai lầm vô thủy giả dối sanh ra. Tỷ lệ với 3000 châu, với bốn biển lớn trong cõi Diêm Phù Đề, với thế giới Ta Bà cho đến nước hữu lậu và các chúng sanh trong mười phương, đồng là nơi tâm tánh nhiệm mầu sáng suốt, các bệnh duyên thấy, nghe, hay, biết, sai lầm, hòa hợp giả dối sanh ra, hòa hợp giả dối diệt mất. Nếu xa rời được các bệnh duyên hòa hợp và không hòa hợp thì cũng diệt trừ được các nguyên nhân chết sống, đầy đủ tánh Bồ đề không sanh diệt, bản tâm thanh tịnh, bản giác thường an trụ. A Nan, ông tuy đã ngộ tâm tánh nhiệm mầu sáng suốt, vốn không phải nhân duyên, không phải tự nhiên, nhưng còn chưa rõ tâm tánh như vậy không phải hòa hợp mà sanh, cũng không phải không hòa hợp. A Nan, nay tôi lại lấy nơi tiền trần hỏi ông, ông còn đem tất cả những tánh nhân duyên hòa hợp của tư tưởng sai lầm thế gian mà tự nghi ngờ rằng chứng tâm Bồ đề cũng do hòa hợp mà phát khởi. Thì hiện nay, cái thấy của ông lại là hòa với cái sáng, hòa với cái tối, hòa với cái thông suốt hay hòa với cái ngăn bịt? Nếu hòa với cái sáng thì ông đang thấy sáng, cái sáng hiện đó, vậy chỗ nào xen lộn với cái thấy? Cái thấy cái sáng có thể nhận rõ, còn hình trạng xen lộn, thì như thế nào? Nếu cái sáng ra ngoài cái thấy, thì làm sao thấy được sáng? Còn nếu cái sáng tức là cái thấy, thì làm sao lại thấy được cái thấy? Như cái thấy cùng khắp, thì còn chỗ nào hòa được với cái sáng, còn như cái sáng cùng khắp, thì lẽ ra không hòa được với cái thấy. Cái thấy đã khác với cái sáng thì khi xen lộn vào, tất phải làm mất tánh cách của cái sáng. Cái thấy xen vào, làm mất tánh cách của cái sáng mà nói hòa với cái sáng là không đúng nghĩa. Đối với cái tối, cái thông suốt và cái ngăn bịt thì cũng như vậy. Lại nữa, A Nan, hiện nay cái thấy nhiệm mầu sáng suốt của ông lại là hợp với cái sáng, hợp với cái tối, hợp với cái thông suốt hay hợp với cái ngăn bịt? Nếu hợp với cái sáng thì đến khi tối, cái sáng đã mất rồi, cái thấy đó đã không hợp với cái tối, làm sao thấy được cái tối? Nếu khi thấy tôi mà không hợp với cái tối thì lẽ ra khi hợp với cái sáng, không thấy được cái sáng; mà đã không thấy được sáng thì làm sao họp với cái sáng và rõ biết cái sáng không phải là tối. Đối với cái tối, cái thông suốt, cái ngăn bịt thì cũng như vậy. Ông A Nan bạch Phật rằng: Thưa Thế Tôn, như chỗ tôi suy nghĩ, cái tâm tánh ấy đối với các trần cảnh và các tâm niệm nhớ nghĩ, không hòa hợp chăng? Phật dạy: Nay ông lại nói tâm tánh không hòa hợp thì tôi lại hỏi ông: Cái tánh thấy gọi là không hòa hợp đó, lại là không hòa với cái sáng, không hòa với cái tối, không hòa với cái thông suốt, hay không hòa với cái ngăn bịt? Nếu không hòa với cái sáng, thì giữa cái thấy và cái sáng phải có ranh giới. Ông nay hãy xét cho kỹ: Chỗ nào là cái sáng, chỗ nào là cái thấy. Nơi cái thấy và nơi cái sáng, thì lấy từ đâu làm ranh giới. A Nan, nếu bên cái sáng, chắc không có cái thấy, thì hai cái không đến với nhau, cái thấy tự nhiên không biết được cái sáng ở đâu, làm sao mà thành lập được ranh giới. Đối với cái tối, cái thông suốt, cái ngăn bịt thì cũng như vậy. Lại cái thấy, gọi là không hòa hợp đó, là không hợp với cái sáng, không hợp với cái tối, không hợp với cái thông suốt hay không hợp với cái ngăn bịt? Nếu không hợp với cái sáng, thì cái thấy với cái sáng, tánh trái ngược nhau, như cái nghe với cái sáng, không đụng chạm gì với nhau cả; thế thì, cái thấy còn không biết cái sáng ở đâu, làm sao phát minh được những lẽ hợp hay không hợp? Đối với cái tối, cái thông suốt, cái ngăn bịt thì cũng như vậy. A Nan, ông còn chưa rõ tất cả các tướng huyễn hóa nơi tiền trần, chính nơi tâm mà sanh ra, rồi theo nơi tâm mà diệt mất. Cái huyễn hóa giả dối gọi là tướng, mà cái tánh chính là tâm tánh nhiệm mầu sáng suốt; như vậy, cho đến Ngũ ấm, Lục nhập, Thập nhị xứ và Thập bát giới, nhân duyên hòa hợp giả dối có sanh ra, nhân duyên chia lìa giả dối gọi rằng diệt; mà không biết rằng sanh, diệt, đi, lại đều vốn là tánh chân như cùng khắp, không lay động, nhiệm mầu, sáng suốt, thường trụ của Như Lai tạng. Trong tâm tánh chân thường đó, cầu cho ra những cái đi, lại, mê, ngộ, sống, chết, hẳn không thể được. A Nan, làm sao Ngũ ấm vốn là tánh chân như nhiệm mầu của Như Lai tạng. A Nan, ví như có người đem con mắt trong sạch, xem hư không trong sáng, chỉ thấy một hư không trong sáng, hẳn không thấy gì. Người kia, không lý do gì, lại bắt con mắt không lay động; ngó chăm mãi, phát ra mỏi mệt thì ở giữa hư không, riêng thấy có hoa đốm lăng xăng và có tất cả những tướng giả dối lộn xộn; nên biết Sắc ấm cũng lại như vậy. A Nan, các hoa đốm lăng xăng ấy, không phải từ hư không mà đến, không phải từ con mắt mà ra. Thật vậy, A Nan, nếu từ hư không mà đến, thì đã từ hư không mà đến, rồi phải trở vào hư không; mà đã có ra có vào, thì không phải là hư không nữa. Hư không, nếu lại không phải là hư không, thì tự nhiên không thể dung nạp hoa đóm sanh diệt trong ấy, như thân thể ông A Nan, không dung nạp được một ông A Nan nữa. Nếu hoa đốm từ con mắt mà ra, thì đã từ con mắt mà ra, rồi phải trở vào con mắt; lại cái tánh hoa đốm ấy đã từ con mắt mà ra, thì lẽ ra phải có thấy. Nếu như có thấy thì khi đi ra, đã làm hoa đốm giữa hư không, đến khi xoay về, phải thấy được con mắt. Nếu không có thấy, thì khi đi ra đã làm mờ hư không, đến khi trở về phải làm mờ con mắt. Lại như thế, khi thấy hoa đốm, lẽ ra con mắt không mờ, làm sao, chỉ khi thấy hư không trong suốt, thì mới gọi là con mắt trong sáng? Vậy nên biết rằng Sắc ấm là giả dối, vốn không phải tánh nhân duyên, không phải tánh tự nhiên. A Nan, ví như có người tay chân yên ổn, trăm vóc điều hòa, bỗng như quên mình, không có gì là trái là thuận; người ấy không lý do gì, lấy hai bàn tay xoa nhau giữa hư không, thì nơi hai bàn tay giả dối sanh ra những cảm xúc trơn, rít, lạnh, nóng. Nên biết Thọ ấm cũng lại như vậy. A Nan, các cảm xúc giả dối kia, không phải từ hư không mà đến, không phải từ bàn tay mà ra. Thật vậy, A Nan, nếu từ hư không mà đến, thì đã sanh cảm xúc nơi bàn tay, sao lại không sanh cảm xúc nơi thân thể, không lẽ hư không lại biết lựa chỗ sanh ra cảm xúc. Nếu như từ bàn tay mà ra, thì lẽ ra không cần hai bàn tay phải hợp lại. Lại đã từ bàn tay mà ra, thì khi bàn tay hợp lại, biết có cảm xúc, đến khi bàn tay rời ra, thì cảm xúc phải chạy vào và xương tủy cánh tay, lẽ ra phải biết đường vào của cảm xúc; rồi lại phải có tâm hay biết, biết ra, biết vào, và phải có một vật đi lại trong thân, sao lại phải chờ đến hai tay hợp lại mới gọi là cảm xúc. Vậy nên biết rằng Thọ ấm là giả dối, vốn không phải tánh nhân duyên, không phải tánh tự nhiên. A Nan, ví như có người, khi nghe nói đến quả mơ chua thì trong miệng có nước bọt chảy ra; khi nghĩ đến đứng trên dốc cao thì lòng bàn chân ghê rợn. Nên biết Tưởng ấm cũng lại như vậy. A Nan, câu chuyện mơ chua như thế, không phải do quả mơ sanh ra, không phải do cái miệng mà vào. Thật vậy, A Nan, nếu do quả mơ sanh ra, thì quả mơ tự nói lấy, sao phải đợi người ta nói; nếu do cái miệng mà vào, thì lẽ ra cái miệng tự nghe lấy, cần gì đến lỗ tai; nếu riêng mình lỗ tai nghe, thì nước bọt kia, sao không từ lỗ tai chảy ra. Câu chuyện nghĩ đến đứng trên dốc cao cũng giống như vậy. Vậy nên biết rằng Tưởng ấm là giả dối, vốn không phải tánh nhân duyên, không phải tánh tự nhiên. A Nan, ví như dòng nước dốc, sóng mòi nối nhau, lớp trước lớp sau, không vượt khỏi nhau. Nên biết Hành ấm cũng lại như vậy. A Nan, dòng nước như vậy không nhân hư không mà sanh, không nhân nước mà có, không phải tánh nước, cũng không ra ngoài hư không và nước. Thật vậy, A Nan, nếu nhân hư không mà sanh, thì cả thập phương hư không vô cùng tận, phải thành dòng nước vô cùng tận và tự nhiên thế giới đều bị chìm đắm cả. Nếu nhân nước mà có, thì dòng nước dốc ấy bản tánh lẽ ra không phải là nước nữa và hiện nay, đã có thể chỉ ra hai tướng của nước và của dòng nước khác nhau. Nếu dòng nước dốc tức là tánh nước thì khi nước đứng lại, lẽ ra không phải là nước nữa; nếu ra ngoài hư không và nước thì không có cái gì ở ngoài hư không và, ngoài nước ra, không thể có dòng nước. Vậy nên biết rằng Hành ấm là giả dối, vốn không phải tánh nhân duyên, không phải tánh tự nhiên. A Nan, ví như có người lấy bình tần già, bịt cả hai lỗ, rồi vác đầy bình hư không, đi xa nghìn dặm, đem cho nước khác. Nên biết Thọ ấm cũng lại như vậy. A Nan, cái hư không đó, không phải đến từ phương kia, cũng không phải đưa vào phương nầy. Thật vậy, A Nan, nếu đến từ phương kia, thì trong cái bình đã đựng hư không đem đi, ở chỗ cũ cái bình phải thiếu hư không; nếu đưa vào phương nầy, thì khi mở miệng bình trút ra, phải thấy hư không ra. Vậy nên biết rằng Thọ ấm là giả dối, vốn không phải tánh nhân duyên, không phải tánh tự nhiên. NAM MÔ LĂNG NGHIÊM HỘI THƯỢNG PHẬT BỒ TÁT MA HA TÁT Quyển 3: Lại nữa, A Nan, vì sao bản tánh của Lục nhập, vốn là tánh chân như nhiệm mầu của Như Lai tạng? A Nan, tức nơi tròng con mắt kia, ngó chăm phát ra mỏi mệt, thì cả cái thấy và cái mỏi mệt đó đều là thể tánh Bồ đề chăm chú phát ra tướng mỏi mệt. Nhân nơi hai thứ vọng trần sáng và tối, phát ra cái thấy bên trong, thu nạp các trần tướng ấy gọi là tánh thấy; cái thấy đó rời hai trần sáng và tối kia, rốt ráo không có tự thể. Thật vậy, A Nan, ông nên biết cái thấy đó không phải từ nơi sáng, nơi tối mà đến, không phải từ nơi con mắt mà ra, cũng không phải do cái hư không mà sanh. Vì cớ sao? Nếu từ cái sáng mà đến, thì khi tối đã theo cái sáng mà diệt, lẽ ra không thấy được tối. Nếu từ cái tối mà đến, thì khi sáng phải theo cái tối mà diệt, lẽ ra không thấy được sáng. Nếu do con mắt mà sanh, hẳn không có sáng, có tối, thì cái thấy như vậy vốn không tự tánh. Nếu do hư không mà ra, thì ngó trước thấy các trần tượng, xoay về phải thấy con mắt; lại hư không tự thấy, nào có dính gì chỗ thu nạp của ông. Vậy nên biết rằng Nhãn nhập là luống dối, vốn không phải tánh nhân duyên, không phải tánh tự nhiên. A Nan, ví như người lấy hai ngón tay bịt chặt hai lỗ tai, do lỗ tai mỏi mệt, trong đầu hóa ra có tiếng; cả cái nghe cùng cái mỏi mệt đồng là thể tánh Bồ đề chăm chú phát ra tướng mỏi mệt. Nhân nơi hai thứ vọng trần động và tĩnh, phát ra cái nghe ở trong, thu nạp cái trần tượng đó, gọi là tánh nghe. Tánh nghe ấy rời hai trần động, tĩnh kia, rốt ráo không có tự thể. Thật vậy, A Nan, ông nên biết, cái nghe đó không phải từ nơi động, nơi tĩnh mà đến, không phải từ nơi lỗ tai mà ra, không phải do hư không mà sanh. Vì cớ sao? Nếu cái nghe kia từ nơi tĩnh mà đến, thì khi động phải theo cái tĩnh mà diệt, lẽ ra không nghe được động. Nếu từ nơi động mà đến, thì khi tĩnh sẽ theo cái động mà diệt, lẽ ra không biết được tĩnh. Nếu do lỗ tai mà sanh, hẳn không có động, có tĩnh, thì cái nghe như vậy vốn không tự tánh. Nếu do hư không mà ra, thì đã có tánh nghe, chắc không phải là hư không nữa; lại hư không tự nghe, nào có dính gì chỗ thu nạp của ông. Vậy nên biết rằng Nhĩ nhập là luống dối, vốn không phải tánh nhân duyên, không phải tánh tự nhiên. A Nan, ví như có người bịt gấp hai lỗ mũi, bịt lâu thành ra mỏi mệt thì ở, trong lỗ mũi, nghe có cảm xúc lạnh; nhân những cảm xúc như thế, mà phân biệt được là thông, là ngăn bịt, là rỗng, là đặc, cho đến các mùi thơm, thối; cả cái ngửi cùng cái mỏi mệt đồng là thể tánh Bồ đề chăm chú phát ra tướng mỏi mệt. Nhân nơi hai thứ vọng trần thông và bịt, phát ra cái ngửi ở trong, thu nạp các trần tượng đó gọi là tánh biết ngửi. Cái ngửi đó rời hai trần thông và bịt kia, rốt ráo không có tự thể. Nên biết cái ngửi đó, không phải từ cái thông, cái bịt mà đến, không phải từ nơi lỗ mũi mà ra, cũng không phải do hư không mà sanh. Vì cớ sao? Nếu từ cái thông mà đến, thì khi bịt, cái ngửi đã mất rồi, làm sao mà biết được bịt; nếu nhân cái bịt mà có, thì khi thông, không còn cái ngửi, làm sao biết được các mùi thơm, thối. Nếu từ lổ mũi sanh ra, hẳn không có cái thông, cái bịt, thì cái ngửi như vậy vốn không tự tánh. Nếu do hư không mà ra, thì cái ngửi đó, phải xoay lại ngửi lỗ mũi của ông; lại hư không tự ngửi, nào có dính gì chỗ thu nạp của ông. Vậy nên biết rằng Tỷ nhập là luống dối, vốn không phải tánh nhân duyên, không phải tánh tự nhiên. A Nan, ví như có người dùng lưỡi liếm mép, liếm mãi sanh ra mỏi mệt. Nếu người đó có bệnh thì có vị đắng. Còn người không có bệnh thì có chút vị ngọt. Do những cảm xúc ngọt, đắng, mà bày tỏ cái tánh nếm; còn khi không động thì thường có tánh nhạt. Cả cái nếm và cái mỏi mệt đồng là thể tánh Bồ đề chăm chú phát ra tướng mỏi mệt. Nhân nơi hai thứ vọng trần nhạt và ngọt, đắng, phát cái nếm ở trong, thu nạp các trần tượng đó, gọi là tánh biết nếm. Tánh biết nếm ấy rời hai trần nhạt và ngọt, đắng kia, rốt ráo không có tự thể. Thật vậy, A Nan, ông nên biết rằng cái biết đắng, biết nhạt như vậy, không phải từ vị ngọt, đắng mà đến, không phải nhân tánh nhạt mà có, không phải từ nơi lưỡi mà ra, cũng không phải do hư không mà sanh. Vì cớ sao? Nếu từ các vị ngọt đắng mà đến, thì khi nhạt, cái biết nếm đã diệt rồi, làm sao biết được nhạt; nếu từ cái nhạt mà ra thì khi ngọt, cái nếm đã mất rồi, làm sao biết được vị ngọt, đắng. Nếu do cái lưỡi sanh ra, hẳn không có những vị ngọt, đắng và nhạt, thì cái biết nếm ấy vốn không tự tánh. Nếu do hư không mà ra, thì hư không tự nếm, chứ không phải lưỡi ông nếm; lại hư không tự biết, nào có dính gì đến chỗ thu nạp của ông. Vậy nên biết rằng Thiệt nhập là luống dối, vốn không phải tánh nhân duyên, không phải tánh tự nhiên. A Nan, ví dụ như có người dùng bàn tay lạnh chạm bàn tay nóng, nếu thế bên lạnh nhiều hơn, thì bên nóng cũng thành lạnh theo, nếu thế bên nóng nhiều hơn, thì bên lạnh cũng thành ra nóng; rồi như vậy, do cái cảm xúc nhận biết trong lúc hợp lại mà rõ sự nhận biết lúc rời ra. Nếu cái thế chênh lệch hiện thành giữa nóng và lạnh, thì nhân đó phát ra mỏi mệt mà có cảm xúc. Cả cái biết cảm xúc cùng cái mỏi mệt đồng là thể tánh Bồ đề chăm chú phát ra tướng mỏi mệt. Nhân nơi hai vọng trần ly và hợp, phát ra cái hay biết ở trong, thu nạp các trần tượng đó, gọi là cái biết cảm xúc. Cái biết như thế, rời hai trần ly và hợp, trái và thuận kia, rốt ráo không có tự thể. Thật vậy, A Nan, ông nên biết cái cảm xúc đó, không phải từ cái ly, cái hợp mà tới, không phải từ cái trái, cái thuận mà có, không phải do nơi thân thể mà ra, cũng không phải do nơi hư không mà sanh. Vì cớ sao? Nếu từ cái hợp mà đến thì khi ly, cái biết đã mất rồi, làm sao biết được cái ly; đối với hai tướng trái và thuận thì cũng như vậy. Nếu từ thân thể mà ra, hẳn không có những tướng ly, hợp, trái, thuận, thì cái biết cảm xúc của ông vốn không tự tánh. Nếu từ nơi hư không mà ra, thì hư không tự hay biết, nào có dính gì chỗ thu nạp của ông. Vậy nên biết rằng Thân nhập là luống dối, vốn không phải tánh nhân duyên, không phải tánh tự nhiên. A Nan, ví như có người nhọc mỏi thì ngủ, ngủ chán thì thức dậy, khi nhận biết trần cảnh thì nhớ, khi hết nhớ thì gọi là quên. Các món sanh, trụ, dị, diệt, trái ngược đó, thói quen thu nạp đưa vào trong, không lẫn lộn nhau, gọi là Ý căn. Cả cái Ý căn cùng cái mỏi mệt, đồng là thể tánh Bồ đề chăm chú phát ra tướng mỏi mệt. Nhân nơi hai thứ vọng trần sanh và diệt, nhóm cái biết ở trong, thu nạp Pháp trần bên trong, dòng thấy nghe đi ngược lại vào bên trong mà không đến đâu, gọi là cái ý hay biết. Cái ý hay biết đó rời hai trần thức và ngủ, sanh và diệt kia, rốt ráo không có tự thể. Thật vậy, A Nan, nên biết cái Ý căn hay biết như thế, không phải từ nơi thức, nơi ngủ mà đến, không phải do cái sanh, cái diệt mà có, không phải từ nơi Ý căn mà phát ra, cũng không phải do nơi hư không mà sanh. Vì cớ sao? Nếu từ nơi thức mà đến, thì khi ngủ đã theo cái thức mà diệt rồi, còn lấy cái gì làm cái ngủ; nếu chắc lúc sanh mới có, thì khi diệt, đã hóa như không có rồi, thì lấy cái gì mà biết là diệt. Nếu do cái diệt mà có, thì khi sanh, không có diệt nữa, lấy gì mà biết là sanh. Nếu do Ý căn mà ra, thì hai tướng thức, ngủ thay đổi lẫn nhau nơi thân thể, nếu rời hai tướng ấy ra, thì cái ý hay biết đó, cũng như hoa đốm hư không, rốt ráo không có tự tánh. Nếu do hư không mà sanh, thì hư không tự biết, nào có dính gì chỗ thu nạp của ông. Vậy nên biết rằng Ý nhập là luống dối, vốn không phải tánh nhân duyên, không phải tánh tự nhiên. Lại nữa, A Nan, vì sao bản tánh của Thập nhị xứ, vốn là tánh chân như nhiệm mầu của Như Lai tạng? A Nan, ông hãy xem rừng cây Kỳ Đà và các suối ao đó; ý ông nghĩ thế nào? Như thế là Sắc trần sanh ra cái thấy, hay cái thấy sanh ra sắc tướng? A Nan, nếu cái thấy sanh ra sắc tướng, thì khi thấy hư không, không có sắc tướng, lẽ ra tánh thấy sanh ra sắc tướng đã tiêu mất rồi. Mà đã tiêu mất, thì tỏ ra hết thảy đều không; sắc tướng đã không, thì lấy gì rõ được tướng hư không? Đối với hư không thì cũng như vậy. Lại nếu Sắc trần sanh ra cái thấy, thì khi thấy hư không, không có sắc, cái thấy liền tiêu mất đi, tiêu mất thì tất cả đều không, lấy gì rõ được hư không và sắc tướng? Vậy nên biết rằng cái thấy cùng sắc, không, đều không có xứ sở; tức Sắc trần và cái thấy, hai xứ đó đều luống dối, vốn không phải tánh nhân duyên, không phải tánh tự nhiên. A Nan, ông lại nghe trong vườn Kỳ Đà nầy, khi đồ ăn dọn rồi thì đánh trống, khi chúng nhóm lại thì đánh chuông, tiếng chuông, tiếng trống trước sau nối nhau. Ý ông nghĩ thế nào? Như thế là, cái tiếng đến bên cái nghe hay cái nghe đến chỗ cái tiếng? A Nan, nếu như cái tiếng đó đến bên cái nghe, thì cũng như tôi khất thực trong thành Thất La Phiệt, tại rừng Kỳ Đà không có tôi nữa. Cái tiếng đó đã đến bên cái nghe của ông A Nan, thì lẽ ra ông Mục Liên, ông Ca Diếp không cùng nghe một lần, huống chi, trong nầy có 1250 vị Sa môn, một khi nghe tiếng chuông, đồng đến chỗ ăn cơm cả. Lại như cái nghe của ông đến bên cái tiếng, thì cũng như tôi đã về rừng Kỳ Đà rồi, trong thành Thất La Phiệt, không còn tôi nữa; vậy khi ông nghe tiếng trống, cái nghe của ông đã đến nơi tiếng trống rồi, thì khi tiếng chuông cũng phát ra, lẽ ra ông không thể nghe cả hai bên, huống nữa, ông còn nghe được cả tiếng voi, ngựa, trâu, dê và nhiều tiếng khác. Còn nếu không đi đến với nhau, thì lại không nghe. Vậy nên biết rằng cái nghe và cái tiếng đều không có xứ sở; tức cái nghe và Thanh trần, hai xứ đều luống dối, vốn không phải tánh nhân duyên, không phải tánh tự nhiên. A Nan, ông hãy ngửi hương chiên đàn trong lư nầy, hương ấy, nếu đốt đến một thù, thì cả thành Thất La Phiệt, trong 40 dặm, đồng thời đều ngửi mùi thơm. Ý ông nghĩ thế nào? Mùi thơm ấy sanh ra, do cây chiên đàn, do nơi lỗ mũi của ông hay do nơi hư không? Nếu như mùi thơm ấy sanh ra do lỗ mũi của ông, thì đã gọi là do lỗ mũi sanh ra, tất phải từ lỗ mũi mà ra, lỗ mũi không phải chiên đàn, làm sao trong lỗ mũi, lại có được mùi thơm chiên đàn? Lại đã gọi rằng ông ngửi mùi thơm, thì mùi thơm phải vào trong lỗ mũi, còn trong lỗ mũi phát ra mùi thơm, mà nói rằng ngửi được, thì không đúng nghĩa. Nếu sanh ra do nơi hư không, thì tánh hư không thường còn, mùi thơm cũng phải thường có, cần gì phải đốt cây khô chiên đàn trong lư rồi mới có. Nếu mùi thơm sanh ra do cây chiên đàn, thì cái chất thơm ấy nhân đốt mà thành khói; nếu lỗ mũi ngữi được, thì lẽ ra khói phải xông đến lỗ mũi, làm sao, khói đó lên trên không, chưa được bao xa, mà trong 40 dặm đều ngửi thơm cả. Vậy, nên biết rằng Hương trần và cái ngửi đều không có xứ sở, tức cái ngửi và Hương trần hai xứ đều luống dối, vốn không phải tánh nhân duyên, không phải tánh tự nhiên. A Nan, ông thường hai thời, ở trong chúng cầm bình bát khất thực. Trong đó, hoặc gặp những món tô, lạc, đề hồ, gọi là vị quý. Ý ông nghĩ thế nào? Vị đó sanh ra, do nơi hư không, do nơi cái lưỡi hay do nơi đồ ăn? A Nan, nếu vị ấy sanh ra do nơi cái lưỡi của ông, thì ở trong miệng ông chỉ có một cái lưỡi; cái lưỡi lúc bấy giờ đã thành vị tô rồi, nếu gặp đường phèn, lẽ ra cái vị không dời đổi, mà nếu không dời đổi, thì không gọi được là biết vị, còn nếu dời đổi, thì cái lưỡi không phải có nhiều tự thể, làm sao, một cái lưỡi lại biết được nhiều vị? Nếu sanh ra do đồ ăn, thì đồ ăn không có tri giác, làm sao tự biết được vị? Lại đồ ăn tự biết, thì cũng đồng như người khác ăn, nào có dính gì đến ông, mà gọi rằng ông biết vị? Nếu sanh ra do hư không, thì ông hãy nếm cái hư không xem là vị gì. Nếu cái hư không đó vị mặn, thì đã làm mặn cái lưỡi của ông, cũng phải làm mặn cái mặt của ông và mọi người trong cõi nầy, cũng giống như cá bể, đã thường chịu cái mặn, không còn biết thế nào là nhạt nữa. Nhưng nếu không biết nhạt, thì lại cũng không biết mặn. Mà đã không biết cái gì, thì làm sao còn gọi là biết vị? Vậy nên biết rằng các vị và cái lưỡi biết nếm đều không có xứ sở; tức cái biết nếm cùng với các vị, hai xứ đều luống dối, vốn không phải tánh nhân duyên, không phải tánh tự nhiên. A Nan, ông thường sớm mai lấy tay xoa đầu, ý ông nghĩ thế nào? Trong việc biết xoa đó, lấy cái gì làm cái biết cảm xúc? Cái biết ở nơi tay hay ở nơi đầu? Nếu nó ở nơi tay, mà cái đầu không biết, thì làm sao thành cái cảm xúc ấy? Còn nếu nó ở nơi đầu, mà cái tay vô dụng, thì làm sao gọi là cảm xúc được. Nếu cả cái đầu và cái tay, mỗi cái đều có biết, thì một mình ông A Nan phải có hai cái biết cảm xúc. Nếu cả đầu và tay đều do một cảm xúc sanh ra, thì tay và đầu lẽ ra chỉ có một tự thể; mà nếu chỉ có một tự thể, thì không năng, không sở, cảm xúc không thành lập được. Còn nếu là hai thể, thì cảm xúc ở phía nào, ở bên năng, thì không ở bên sở, ở bên sở, thì không ở bên năng; không lẽ hư không tạo thành cảm xúc cho ông? Vậy nên biết rằng cảm xúc và thân căn đều không có xứ sở; tức cái thân biết cảm xúc cùng cái cảm xúc, hai thứ đều luống dối, vốn không phải tánh nhân duyên, không phải tánh tự nhiên. A Nan, ông thường trong ý duyên với ba tánh: thiện, ác và vô ký, sanh ra có các Pháp trần. Những Pháp trần đó tức nơi tâm mà sanh ra hay là rời cái tâm, riêng có chỗ khác? A Nan, nếu tức nơi tâm, thì Pháp trần không phải là trần cảnh nữa, và như thế, thì nó không phải là cái sở duyên của tự tâm, làm sao thành một xứ được? Nếu rời cái tâm, riêng có chỗ khác, thì bản tánh của Pháp trần là có biết hay không có biết? Nếu có biết, thì gọi là tâm, nhưng nếu nó khác với ông và không phải trần cảnh, thì cũng như cái tâm của người khác; còn nếu nó tức là ông và cũng tức là tâm, thì làm sao cái tâm nơi ông lại thành hai được? Lại nếu như không có biết, cái Pháp trần đó đã không phải sắc, thanh, hương, vị, ly, hợp, lạnh, nóng và tướng hư không, thì nó sẽ ở chỗ nào? Hiện nay nơi sắc, không, không thể chỉ nó ra được; không lẽ trong nhân gian lại có cái ngoài hư không? Không có cảnh sở duyên, thì Ý căn do đâu mà lập thành một xứ được? Vậy nên biết rằng Pháp trần cùng Ý căn đều không có xứ sở; tức Ý căn cùng Pháp trần, hai xứ đều luống dối, vốn không phải tánh nhân duyên, không phải tánh tự nhiên. Lại nữa A Nan, làm sao Thập bát giới vốn là tánh chân như nhiệm mầu của Như Lai tạng? A Nan, như ông bày tỏ: Nhãn căn và Sắc trần làm duyên, sanh ra Nhãn thức. Thức đó lại là nhân Nhãn căn sanh ra, lấy Nhãn căn làm giới, hay nhân Sắc trần sanh ra, lấy Sắc trần làm giới? A Nan, nếu nhân Nhãn căn sanh ra, mà không có sắc có không, thì không thể phân biệt, dầu cho có cái thức của ông thì đem ra dùng về việc gì? Cái thấy của ông, ngoài những sắc xanh, vàng, trắng, đỏ, thì không thể biểu hiện được; vậy do đâu mà lập thành ra giới? Nếu nhân Sắc trần sanh ra, thì khi chỉ có hư không, không có sắc, lẽ ra cái thức của ông phải diệt, làm sao còn biết được là hư không? Nếu khi sắc tướng biến đổi thành hư không, ông cũng biết rằng sắc tướng biến đổi, mà cái thức của ông thì không biến đổi; thế thì, do đâu mà lập Sắc trần làm giới? Nếu theo Sắc trần mà biến đổi, thì tự nhiên Sắc trần không thành giới được. Nếu không biến đổi, thì là thường hằng, cái thức đã do Sắc trần sanh ra, lẽ ra không thể biết hư không ở đâu? Nếu gồm hai thứ Nhãn căn và Sắc trần chung cùng sanh ra; vậy, như hợp lại, thì ở giữa phải ly, còn như ly ra, thì hai bên lại hợp, thể tánh xen lộn, làm sao thành được giới? Vậy nên biết rằng Nhãn căn Sắc trần làm duyên, sanh ra giới Nhãn thức, cả ba chỗ đều không, và ba giới Nhãn căn, Sắc trần và Nhãn thức, vốn không phải tánh nhân duyên, không phải tánh tự nhiên. A Nan, lại như ông bày tỏ: Nhĩ căn và Thanh trần làm duyên, sanh ra Nhĩ thức. Thức đó nhân Nhĩ căn sanh ra, lấy Nhĩ căn làm giới, hay nhân Thanh trần sanh ra, lấy Thanh trần làm giới? A Nan, nếu nhân Nhĩ căn sanh ra, mà không có hai tướng động, tĩnh hiện tiền, thì cái biết của Nhĩ căn cũng không thành; mà đã không biết gì, thì cái biết còn không thành, huống nữa cái thức phân biệt còn có hình trạng gì. Nếu nhân lỗ tai nghe thì đã không động, tĩnh, cái nghe cũng không thành; làm sao lấy hình sắc lỗ tai đối với Xúc trần, mà gọi được là giới Nhĩ thức; và cái giới Nhĩ thức như thế, do đâu mà lập ra. Nếu nhân Thanh trần mà sanh, thì cái Nhĩ thức nhân Thanh trần mà có, không có dính líu gì đến cái nghe; mà đã không nghe, thì cũng không biết các tướng Thanh trần ở đâu. Lại nói Nhĩ thức do Thanh trần sanh ra, dầu cho rằng Thanh trần, nhân cái nghe mà có tướng, thì cái nghe, lẽ phải nghe được Nhĩ thức. Nếu không nghe được Nhĩ thức, thì Thanh trần không phải là giới của Nhĩ thức. Nếu nghe được, thì Nhĩ thức cũng đồng như Thanh trần, và Nhĩ thức đã bị nghe, thì lấy cái gì biết được rằng đã nghe cái thức? Còn nếu cái thức không biết, thì cũng như cỏ như cây. Lại không lẽ Thanh trần và cái nghe xen lộn, thành ra giới ở giữa? Giới ở giữa đã không có, thì các tướng nội căn, ngoại trần, do đâu mà thành lập được. Vậy, nên biết rằng Nhĩ căn, Thanh trần làm duyên, sanh ra giới Nhĩ thức, cả ba chỗ đều không và ba giới Nhĩ căn, Thanh trần và Nhĩ thức, vốn không phải tánh nhân duyên, không phải tánh tự nhiên. A Nan, lại như ông bày tỏ: Tỷ căn và Hương trần làm duyên, sanh ra Tỷ thức. Thức đó lại nhân Tỷ căn sanh ra, lấy Tỷ căn làm giới, hay nhân Hương trần sanh ra, lấy Hương trần làm giới? A Nan, nếu nhân Tỷ căn sanh ra, thì trong tâm ông lấy cái gì làm Tỷ căn? Ông lấy cái hình tướng mũi thịt như hai móng tay, hay lấy cái tánh ngửi biết lay động làm Tỷ căn? Nếu lấy cái hình tướng mũi thịt, thì chất thịt là thân căn và cái biết của thân căn là cái biết cảm xúc. Đã gọi là thân căn thì không phải là Tỷ căn, đã gọi rằng cảm xúc, thì đó là Xúc trần đối với thân căn. Vậy, còn không có gì đáng gọi là Tỷ căn, do đâu mà lập thành giới? Nếu lấy cái ngửi biết làm Tỷ căn, thì trong tâm ông lấy cái gì làm cái có ngửi biết? Nếu lấy lỗ mũi thịt, thì cái biết của chất thịt là Xúc trần, chứ không phải như Tỷ căn; nếu lấy cái hư không làm cái có ngửi biết, thì hư không tự biết, còn xác thịt lẽ ra không biết, như thế, thì lẽ ra hư không là ông; thân của ông mà không có biết, thì ông A Nan hiện nay lẽ cũng không còn đâu nữa. Nếu lấy cái hương làm cái có ngửi biết, thì cái biết thuộc về hướng trần, nào dính gì đến ông? Nếu các mùi thơm, thối sanh ra do Tỷ căn của ông, thì hai mùi thơm, thối kia không sanh ra do cây y lan và cây chiên đàn; hai vật đó không tới, ông tự ngửi lỗ mũi là thơm hay là thối; thối thì không phải thơm, thơm thì không phải thối; nếu cả hai mùi thơm, thối đều ngửi được cả, thì một người ông phải có hai Tỷ căn và đứng trước tôi hỏi đạo phải có hai ông A Nan, thì ông nào mới là tự thể của ông. Còn nếu Tỷ căn là một, thì thơm, thối không hai, thối đã thành thơm, thơm đã thành thối, hai tánh đó đã không có, thì lấy gì lập được thành giới? Lại nếu nhân Hương trần mà có, thì Tỷ thức đã nhân Hương trần mà có, cũng như nhân con mắt có thấy, không thể thấy được con mắt; Tỷ thức nhân Hương trần mà có, lẽ ra không biết được Hương trần. Nếu biết được Hương trần, thì không phải do Hương trần sanh ra, nếu không biết được Hương trần, thì không phải là Tỷ thức. Hương trần mà không ngửi biết là có, thì cái giới Hương trần không thành; Tỷ thức mà không biết Hương trần, thì cái giới của nó, không phải do Hương trần mà lập. Đã không có cái thức trung gian, thì nội căn, ngoại trần cũng không thành và tất cả những điều ngửi biết kia rốt ráo đều luống dối. Vậy, nên biết rằng Tỷ căn, Hương trần làm duyên, sanh ra Tỷ thức, cả ba chỗ đều không và ba giới Tỷ căn, Hương trần và Tỷ thức, vốn không phải tánh nhân duyên, không phải tánh tự nhiên. A Nan, lại như ông bày tỏ: Thiệt căn và Vị trần làm duyên, sanh ra Thiệt thức. Thức đó lại nhân Thiệt căn sanh ra, lấy Thiệt căn làm giới, hay nhân Vị trần sanh ra, lấy Vị trần làm giới? A Nan, nếu nhân Thiệt căn sanh ra, thì như trong thế gian, những loại mía ngọt, mơ chua, hoàng liên đắng, muối mặn, tế tân, gừng, quế cay, đều không có vị, ông tự nếm cái lưỡi là ngọt hay là đắng. Nếu cái lưỡi là đắng, thì lấy cái gì mà nếm cái lưỡi; cái lưỡi đã không thể tự nếm được, thì lấy gì mà có hay biết; còn nếu cái lưỡi không đắng, thì tự nhiên Vị trần không sanh ra, làm sao mà lập được thành giới? Nếu nhân Vị trần sanh ra; vậy Thiệt thức đã là vị rồi, thì cũng đồng như Thiệt căn, không thể tự nếm được, làm sao còn biết được là có vị hay không có vị? Lại tất cả các vị không phải do một vật sanh ra. Các vị đã do nhiều vật sanh ra, thì cái Thiệt thức do Vị trần sanh ra, cũng phải có nhiều tự thể. Nếu tự thể của Thiệt thức là một và tự thể đó thật do Vị trần sanh ra, thì các vị mặn, nhạt, chua, cay và nhiều vị khác nhau, do các thứ đó hòa hợp cùng sanh ra, đều chỉ là một vị, lẽ ra không có phân biệt; mà đã không có phân biệt, thì không thể gọi là thức, làm sao còn gọi là giới Thiệt thức? Không lẽ hư không lại sanh được cái thức của ông? Nếu Thiệt căn, Vị trần, hòa hợp mà sanh ra cái thức ở giữa, vốn không tự tánh, làm sao mà lập được thành giới? Vậy, nên biết rằng Thiệt căn, Vị trần làm duyên, sanh ra Thiệt thức, cả ba chỗ đều không, và ba giới Thiệt căn, Vị trần và Thiệt thức, vốn không phải tánh nhân duyên, không phải tánh tự nhiên. A Nan, lại như ông bày tỏ: Thân căn và Xúc trần làm duyên, sanh ra thân thức. Thức đó lại là nhân thân căn sanh ra, lấy thân căn làm giới, hay nhân Xúc trần sanh ra, lấy Xúc trần làm giới? A Nan, nếu nhân thân căn sanh ra, không có cái duyên của hai cảm xúc hợp và ly, thì thân căn còn biết gì. Nếu nhân Xúc trần sanh ra mà không có thân căn của ông, thì có ai không có thân căn mà biết hợp, biết ly được. A Nan, vật thì không biết cảm xúc, thân căn có biết, mới có cảm xúc; tức nơi cảm xúc, mà biết có thân căn, tức nơi thân căn mà biết có cảm xúc; nhưng đã tức là cảm xúc, thì không phải thân căn, mà đã tức là thân căn, thì không phải cảm xúc; cả hai tướng thân căn và Xúc trần, vốn không có xứ sở. Nếu Xúc trần hợp một với thân căn, thì tức là tự thể của thân căn rồi; còn nếu rời hẳn với thân căn, thì thành không có gì, như các tướng hư không. Nội căn, ngoại trần đã không thành, thì làm sao lập được cái thức ở giữa; cái thức ở giữa đã không lập được, thì nội căn, ngoại trần, bản tánh cũng rỗng không và cái thức của ông do đâu mà lập được thành giới. Vậy, nên biết rằng thân căn, Xúc trần làm duyên, sanh ra thân thức, cả ba chỗ đều không, và ba giới thân căn, Xúc trần và thân thức, vốn không phải tánh nhân duyên, không phải tánh tự nhiên. A Nan, lại như ông bày tỏ: Ý căn và Pháp trần làm duyên, sanh ra Ý thức. Thức đó lại là nhân Ý căn sanh ra, lấy Ý căn làm giới, hay nhân Pháp trần sanh ra, lấy Pháp trần làm giới? A Nan, nếu nhân Ý căn sanh ra, thì trong ý ông, chắc phải có chỗ nghĩ ngợi mới phát minh được cái ý của ông; nếu không có các Pháp trần, thì Ý căn không thể sanh ra được. Rời các Pháp trần, Ý căn còn không có hình tướng, thì đem Ý thức ra mà dùng vào việc gì? Lại cái thức tâm của ông với các thứ nghĩ ngợi, các sự rõ biết là đồng nhau hay khác nhau. Nếu đồng với Ý căn, thì tức là Ý căn rồi, làm sao lại do Ý căn sanh ra? Nếu khác, mà không đồng với Ý căn, thì lẽ ra không còn biết gì. Nếu không biết gì, thì làm sao lại do Ý căn sanh ra; còng nếu có biết, thì làm sao lại chia ra ý thứ và Ý căn? Chỉ hai tánh đồng nhau, khác nhau còn không thành, làm sao lập được thành giới? Nếu nhân Pháp trần sanh ra, thì các pháp trong thế gian, không ngoài năm trần. Ông hãy xét các pháp sắc, thanh, hương, vị, xúc, có tướng rõ ràng đối với năm căn, đều không thuộc về phần thu nạp của Ý căn. Nếu Ý thức của ông quyết định nương nơi Pháp trần mà sanh ra, thì ông hãy xét từng pháp, từng pháp, hình trạng thế nào. Nếu rời hẳn các tướng sắc, không, động, tĩnh, thông, bịt, hợp, ly, sanh, diệt, thì rốt ráo không thành một pháp nào cả. Lại, sanh cũng là các pháp như sắc, như không sanh ra, diệt cũng như các pháp như sắc, như không diệt mất. Các nguyên nhân đã không thành, thì cái thức do nó sanh ra, còn có hình tướng gì; hình tướng còn không có, làm sao mà lập được thành giới. Vậy, nên biết rằng Ý căn, Pháp trần làm duyên, sanh ra Ý thức, cả ba chỗ đều không, và ba giới Ý căn, Pháp trần và Ý thức, vốn không phải tánh nhân duyên, không phải tánh tự nhiên. Ông A Nan bạch Phật: Thưa Thế Tôn, Đức Như Lai thường nói về nhân duyên hòa hợp rằng: Tất cả các thứ biến hóa trong thế gian đều nhân bốn món Đại hòa hợp mà phát ra. Làm sao Đức Như Lai lại bác bỏ cả hai nghĩa nhân duyên và tự nhiên. Nay tôi không biết nghĩa đó thế nào, xin Phật rủ lòng thương xót chỉ bày cho chúng sanh nghĩa rốt ráo của trung đạo, không còn các đều hý luận. Khi bấy giờ, đức Thế Tôn bảo ông A Nan rằng: Trước đây ông nhàm chán các pháp Tiểu thừa Thanh Văn, Duyên giác, phát tâm tha thiết cầu đạo Vô thượng Bồ đề, nên tôi lúc nầy chỉ bày cho ông đệ nhất nghĩa đế, làm sao ông lại còn đem những nhân duyên vọng tưởng hý luận thế gian mà tự ràng buộc mình? Ông tuy nghe được nhiều pháp, nhưng cũng như người nói tên vị thuốc, mà đến khi thuốc thật ở trước mắt, thì lại không phân biệt được. Như Lai gọi là rất đáng thương xót. Nay ông hãy nghe cho kỹ, tôi sẽ vì ông phân tách chỉ bày và cũng để cho những người tu đại thừa sau nầy thông suốt được thật tướng. Ông A Nan yên lặng kính vâng thánh chỉ của Phật. Phật dạy: A Nan, như ông đã nói: Bốn món Đại hòa hợp phát ra các thứ biến hóa trong thế gian. A Nan, nếu tánh các món đại kia không phải hòa hợp, thì không thể lẫn lộn với các đại khác, cũng như hư không không thể hòa hợp được với các sắc tướng. Nếu tánh của các Đại là hòa hợp, thì cũng đồng như các thứ biến hóa, thủy chung thành nhau, sanh diệt nối nhau, sanh rồi diệt, diệt rồi sanh, sanh sanh diệt diệt, như vòng lửa quay tròn chưa hề dừng nghỉ. A Nan, như nước thành giá, giá lại thành nước. Ông hãy xét cái tánh của Địa đại, to thì làm đất liền, nhỏ thì làm vi trần, cho đến lân hư trần, do chẻ chất cực vi, là sắc tướng nhỏ tột, ra 7 phần mà thành. Nếu chẻ lân hư trần nữa, thì thật là tánh hư không. A Nan, nếu cái lân hư trần đó, chẻ ra thành được hư không, thì biết hư không cũng sanh ra được sắc tướng. Nay ông hỏi rằng do hòa hợp mà sanh ra các tướng biến hóa trong thế gian, thì ông hãy xét một cái lân hư trần, phải dùng bao nhiêu hư không hợp lại mới có, không thể lân hư trần hợp lại thành lân hư trần. Lại lân hư trần đã chẻ được thành hư không, thì phải dùng bao nhiêu sắc tướng hợp lại, mới thành cả hư không. Nhưng nếu sắc tướng hợp lại, thì hợp sắc tướng lại, không thể thành được hư không; còn nếu hư không hợp lại, thì hợp hư không lại, không thể thành được sắc tướng; sắc tướng còn có thể chẻ được, chứ hư không thì làm sao mà hợp được? Ông vốn không biết trong Như Lai tạng, tánh sắc là chân không, tánh không là chân sắc, bản nhiên thanh tịnh, cùng khắp Pháp giới, theo tâm chúng sanh, đáp ứng với lượng hay biết, theo nghiệp mà phát hiện; thế gian không biết, lầm là nhân duyên và tánh tự nhiên, đều là những so đo phân biệt của Ý thức, chỉ có lời nói, toàn không có nghĩa chân thật. A Nan, Hỏa đại không có tự thể, gửi nơi các duyên mà phát hiện. Ông hãy xem các nhà, chưa ăn ở trong thành, khi muốn nhóm bếp, thì tay cầm kính hiển vi, đưa trước ánh sáng mặt trời mà lấy lửa. A Nan, phàm gọi là hòa hợp, thì như tôi cùng ông và 1250 vị Tỳ kheo, hiện nay, hợp thành một chúng; tuy chúng chỉ có một, song gạn xét về căn bản, thì mỗi người đều có thân, đều có danh tự họ hàng của mình, như ông Xá Lợi Phất, thì thuộc dòng Bà la môn, ông Ưu Lâu Tần Loa, thì thuộc dòng Ca Diếp, cho đến ông A Nan, thì thuộc dòng họ Cù Đàm. A Nan, nếu lửa đó nhân hòa hợp mà có, thi khi người kia cầm kính lấy lửa nơi ánh sáng mặt trời, lửa đó từ trong kính mà ra, do bùi nhùi mà có hay từ mặt trời mà đến? A Nan, nếu từ mặt trời mà đến, thì lửa ấy đã đốt được bùi nhùi trong tay của ông, những rừng cây mà ánh sáng mặt trời đi qua, lẽ ra đều bị đốt cả. Nếu từ trong kính mà ra, thì lửa ấy đã có thể từ trong kính ra đốt cháy bùi nhùi, làm sao cái kính lại không chảy; cho đến cả cái tay ông cầm kính còn không thấy nóng, thì làm sao kính lại chảy được. Nếu do bùi nhùi sanh ra, thì cần gì ánh sáng mặt trời và kính tiếp đối với nhau, rồi sau lửa mới sanh ra. Ông hãy xét cho kỹ, kính do tay cầm, mặt trời thì đi trên trời, còn bùi nhùi thì từ đất sanh ra, vậy lửa từ phương nào đi đến chỗ đó. Mặt trời và kính xa nhau, không phải hòa, không phải hợp, không lẽ lửa kia, không do đâu mà tự có. Ông còn không biết trong Như Lai tạng, tánh hỏa là chân không, tánh không là chân hỏa, bản nhiên thanh tịnh cùng khắp Pháp giới, theo tâm chúng sanh, đáp ứng với lượng hay biết. A Nan, ông nên biết rằng người đời cầm kính một chỗ, thì một chỗ có lửa sanh ra, khắp Pháp giới đều cầm kính, thì khắp Pháp giới bốc lửa. Lửa bốc khắp thế gian, đâu có chỗ ở, theo nghiệp mà phát hiện. Thế gian không biết, lầm là nhân duyên và tánh tự nhiên, đều là những so đo phân biệt của Ý thức, chỉ có lời nói, toàn không có nghĩa chân thật. A Nan, tánh Thủy đại không nhất định, khi chảy, khi đứng không chừng. Như trong thành Thất La Phiệt, các ông Tiên Ca Tỳ La, Chước Ca La và các nhà đại huyễn thuật Bát Đầu Ma, Ha Tát Đa,… muốn cầu tinh Thái Âm để hòa với các thuốc huyễn thuật, thì các ông ấy, trong lúc sáng trăng trong, tay cầm hạt châu Phương chư, hứng nước trong ánh mặt trăng. Vậy, nước ấy từ trong hạt châu mà ra, do hư không mà có hay từ mặt trăng mà đến? A Nan, nếu từ mặt trăng mà đến, thì ở phương xa còn có thể làm cho hạt châu chảy ra nước, những rừng cây ánh sáng mặt trăng đi qua, lẽ ra đều phải phun nước; mà nếu phun nước, thì sao lại phải đợi có hạt châu Phương như mới chảy nước được? Còn nếu không phun nước, thì rõ ràng nước đó, không phải từ mặt trăng mà xuống. Nếu từ hạt châu mà ra, thì trong hạt châu ấy, thường phải chảy nước, sao còn phải đợi ánh sáng mặt trăng trong lúc nửa đêm? Nếu do hư không mà sanh, thì hư không không bờ bến, nước cũng không giới hạn; vậy từ cõi người đến cõi trời, lẽ ra đều phải chìm ngập cả, làm sao lại còn có thủy, lục, không, hành? Ông hãy xét cho kỹ, mặt trăng từ trên trời đi qua, hạt châu do tay cầm, còn cái mâm hứng nước thì do người sắp đặt; vậy nước kia từ phương nào mà chảy đến đó. Mặt trăng và hạt châu xa nhau, không phải hòa, không phải hợp, không lẽ nưóc kia, không do đâu mà tự có. Ông còn biết trong Như Lai tạng, tánh thủy là chân không, tánh không là chân thủy, bản nhiên thanh tịnh, cùng khắp Pháp giới, theo tâm chúng sanh, đáp ứng với lượng hay biết. Một chỗ cầm hạt châu, thì một chỗ nước chảy ra, khắp Pháp giới cầm hạt châu, thì đầy Pháp giới nước sanh ra. Thủy đại sanh khắp thế gian, đâu có chỗ ở, theo nghiệp mà phát hiện; thế gian không biết, lầm là nhân duyên và tánh tự nhiên, đều là những so đo phân biệt của Ý thức, chỉ có lời nói, toàn không có nghĩa chân thật. A Nan, Phong đại không có tự thể, khi động, khi tĩnh không chừng. Ông thường sửa áo, vào trong đại chúng, gấu áo Tăng già lê động đến người bên cạnh, thì có chút gió phảy qua mặt người kia. Gió đó lại là, do gấu áo ca sa mà ra, do hư không mà phát khởi hay do mặt người kia mà sanh? A Nan, nếu gió đó phát ra, do gấu áo ca sa, thì ông đã mặc cả gió, lẽ ra cái áo phải bay tung ra, rời khỏi thân thể của ông. Nay tôi thuyết pháp, rũ áo ở trong Hội nầy, ông hãy xem cái áo tôi, gió ở chỗ nào? Không lẽ trong áo lại có chỗ chứa gió. Nếu gió đó do hư không sanh ra, thì khi cái áo ông không động, vì sao lại không phải gió? Và tánh hư không thường còn, thì gió lại phải thường sanh ra; khi không có gió, thì hư không phải diệt mất. Gió diệt, thì có thể thấy được, còn hư không diệt, thì hình trạng thế nào? Lại nếu có sanh diệt, thì không gọi là hư không và đã gọi là hư không, thì làm sao lại phát ra gió được? Nếu gió đó sanh ra do cái mặt người bị phảy, thì đã do mặt người đó sanh ra, lẽ ra phải phảy lại ông, sao tự ông sửa áo mà lại phảy ngược lại người kia? Ông hãy xét cho kỹ: Sửa áo là do nơi ông, cái mặt thì thuộc về người kia, hư không thì vắng lặng, không thể lay động, vậy gió từ phương nào giong ruổi đến đó. Tánh gió và tánh hư không cách xa nhau, không phải hòa, không phải hợp, không lẽ gió kia, không do đâu mà tự có. Ông thật không biết trong Như Lai tạng, tánh phong là tánh chân không, tánh không là chân phong, bản nhiên thanh tịnh cùng khắp Pháp giới, theo tâm chúng sanh, đáp ứng với lượng hay biết. A Nan, như một mình ông hơi động cái áo, thì có chút gió phát ra; khắp Pháp giới đều phảy, thì khắp cõi nước sanh ra phong đại. Phong đại đầy nhẩy thế gian, đâu có chỗ ở, theo nghiệp mà phát hiện. Thế gian không biết, lầm là nhân duyên và tánh tự nhiên, đều là những so đo phân biệt của Ý thức, chỉ có lời nói, toàn không có nghĩa chân thật. A Nan, hư không không có hình, nhân sắc tướng mà tỏ bày ra. Như trong thành Thất La Phiệt, chỗ cách xa sông, những người dòng Sát lỵ, dòng Bà la môn, dòng Tỳ xá, dòng Thủ đà hay dòng Phả la đọa, dòng Chiên đà la,… khi dựng nhà mới, thì đào giếng mà lấy nước, đào đất ra một thước, thì trong đó có một thước hư không, như vậy cho đến đào đất ra một trượng, thì trong đó lại được một trượng hư không, hư không nông hay sâu, tùy đào đất ra nhiều hay ít. Hư không đó là nhân đất mà ra, nhân đào mà có hay không nhân gì mà tự sanh? A Nan, nếu hư không đó không nhân gì mà tự sanh, thì khi trước khi chưa đào đất, sao nơi đó lại không trống rỗng, mà chỉ thấy đất liền, hẳn không thông suốt. Nếu nhân đất mà ra, thì khi đất ra, phải thấy hư không vào; nếu đất ra trước, mà không thấy hư không vào, thì làm sao hư không lại nhân đất mà ra. Còn nếu không ra, không vào, thì hư không với đất vốn không khác nhau; không khác tức là đồng, thì khi đất ra, sao hư không lại không ra. Nếu nhân đào mà ra, thì phải đào ra hư không, chứ không đào ra đất; nếu không nhân đào mà ra, thì tự đào ra đất, làm sao lại thấy hư không? Ông hãy xét cho kỹ, nhận rõ xét chín: Đào, thì do tay người, theo phương hướng mà vận chuyển, đất, thì từ nơi đất liền mà dời đi, còn hư không, như vậy, thì nhân đâu mà ra. Đào là thật sự, hư không là rỗng trống, không có tác dụng gì với nhau, không phải hòa, không phải hợp, không lẽ hư không không do đâu mà tự ra. Nếu cái hư không đó, bản tánh viên mãn cùng khắp, không có lay động, thì nên biết hiện tiền hư không và bốn thứ Địa, Thủy, Hỏa, Phong, đều gọi là Ngũ đại, tánh thật viên dung, vốn là tánh Như Lai tạng, không sanh, không diệt. A Nan, tâm ông mê muội, không ngộ được bốn đại vốn là tánh Như Lai tạng, ông hãy xét cái hư không là ra, là vào hay không ra, không vào. Ông toàn không biết trong Như Lai tạng, tánh giác là chân không, tánh không là chân giác, bản nhiên thanh tịnh, cùng khắp Pháp giới, theo tâm chúng sanh, đáp ứng với lượng hay biết. A Nan, như một giếng trống không, thì hư không sanh trong một giếng; hư không thập phương, thì cũng như vậy. Không đại cùng khắp mười phương, đâu có chỗ ở, theo nghiệp mà phát hiện; thế gian không biết, lầm là nhân duyên và tánh tự nhiên, đều là những so đo phân biệt của Ý thức, chỉ có lời nói, toàn không có nghĩa chân thật. A Nan, Kiến đại có giác quan mà không phân biệt, nhân các thứ sắc, không mà có. Như hiện nay ông ở trong rừng Kỳ Đà, sớm mai thì sáng, ban đêm thì tối, đến lúc nửa đêm, trăng tròn thì sáng, vắng trăng thì tối; những tướng sáng, tối ấy do cái thấy phân tách. Cái thấy đó, lại là đồng một thể với các tướng sáng, tối và cả hư không, hay không đồng một thể. Hoặc cũng đồng, cũng không phải đồng, hoặc cũng khác, cũng không phải khác? A Nan, nếu cái thấy đó, cùng với sáng, tối và hư không vốn là một thể, thì cái sáng, cái tối tiêu diệt lẫn nhau, khi tối, thì không sáng, khi sáng thì không tối; nếu như cái thấy cùng một thể với cái tối, thì khi sáng, cái thấy phải tiêu mất; nếu cùng một thể với cái sáng, thì khi tối, cái thấy phải diệt rồi, mà đã diệt, thì làm sao còn thấy được sáng, thấy được tối. Còn như sáng và tối khác nhau, còn cái thấy thì không sanh không diệt, thì làm sao lại thành đồng một thể được? Nếu cái thấy đó không phải đồng một thể với cái tối và cái sáng, thì ngoài cái sáng, cái tối và hư không ra, ông hãy phân tách cái thấy thành hình tướng gì; rời cái sáng, cái tối và hư không, cái thấy đó cũng đồng như lông rùa sừng thỏ; nếu tách hẳn ba thứ sáng, tối và hư không, thì do đâu mà thành lập được cái thấy? Sáng và tối trái ngược lẫn nhau, làm sao hoặc cũng là đồng; rời ba thứ sáng, tối và hư không, cái thấy vốn không còn gì, làm sao hoặc cũng là khác. Bên hư không, bên cái thấy, vốn không có bờ cõi, làm sao lại không phải đồng; thấy cái tối, thấy cái sáng, tánh không dời đổi, làm sao lại không phải khác? Ông hãy xét cho kỹ, suy xét chín chắn, nhận cho cùng, xét cho rõ, sáng là do mặt trời, tối là do đêm không trăng, thông suốt thuộc về hư không, ngăn bịt thuộc về đất liền còn cái thấy, như vậy nhân đâu mà ra. Cái thấy có giác quan, hư không thì không hay biết, không phải hòa, không phải hợp; không lẽ cái thấy, không do đâu mà tự phát ra. Còn như tất cả các sự thấy, nghe, hay, biết, bản tánh viên mãn cùng khắp, vốn không lay động, thì nên biết kiến đại cùng với hư không không bờ bến, không lay động và bốn món đại: Địa, Thủy, Hỏa, Phong, có lay động, đều gọi là Lục đại, tánh thật là viên dung, vốn là tánh Như Lai tạng, không sanh, không diệt. A Nan, tánh ông chìm đắm, không ngộ được những sự thấy, nghe, hay, biết của ông vốn là tánh Như Lai tạng; ông hãy xét những thấy, nghe, hay, biết, đó là sanh hay diệt, là đồng hay là khác, là không phải sanh, không phải diệt, hay không phải đồng, không phải khác. Ông chưa từng biết trong Như Lai tạng, cái thấy nơi tâm tánh là cái tánh minh của bản giác; cái tánh minh của bản giác biểu lộ ra nơi cái thấy, bản nhiên thanh tịnh cùng khắp Pháp giới, theo tâm chúng sanh đáp ứng với lượng hay biết. Như nơi Nhãn căn, cái thấy cùng khắp Pháp giới, thì cái biết nghe, biết ngửi, biết nếm, biết xúc, biết các pháp, công năng nhiệm mầu sáng suốt cũng cùng khắp Pháp giới, đầy đủ thập phương hư không, đâu có chỗ ở, theo nghiệp mà phát hiện. Thế gian không biết, lầm là nhân duyên và tánh tự nhiên, đều là những phân biệt so đo của Ý thức, chỉ có lời nói, toàn không có nghĩa chân thật. A Nan, Thức đại không có nguồn gốc, nhân nơi sáu thứ căn, trần giả dối phát ra. Nay ông hãy xem khắp thánh chúng trong hội này; ông dùng con mắt lướt qua, mắt ông trông khắp, chỉ như bóng trong gương, không phân tách riêng biệt. Cái thức ông, trong ấy theo thứ lớp chỉ ra đây là ông Văn Thù, đây là ông Phú Lâu Na, đây là ông Mục Kiền Liên, đây là ông Tu Bồ Đề, đây là ông Xá Lợi Phất. Cái thức nhận biết như thế sanh ra do cái thấy, do các tướng, do hư không, hay không nhân gì bỗng nhiên sanh ra? A Nan, nếu cái thức của ông sanh ra do cái thấy; mà như không có các tướng sáng, tối và sắc, không, thì không còn cái thấy của ông; cái thấy còn không có, do đâu mà phát ra được cái thức? Nếu cái thức của ông sanh ra do các tướng, chứ không do cái thấy, thì đã không thấy sáng, cũng không thấy tối; sáng và tối đã không thấy, thì cũng không có sắc, không; các tướng kia còn không có, thì cái thức do đâu mà phát ra? Nếu cái thức sanh ra do hư không, ngoài các tướng và ngoài cái thấy, thì ngoài cái thấy không có cảm giác, tự nhiên không thể biết được cái sáng, cái tối, các sắc tướng và hư không; ngoài các tướng, thì không có các duyên của tiền trần, sự thấy, nghe, hay, biết, không do đâu mà thành lập được. Ngoài hai thứ căn trần ra, nếu là không, thì cũng đồng như không có, còn nếu là có, thì cũng không đồng như các vật, dầu cho phát ra cái thức của ông, thì đem ra mà phân biệt cái gì? Nếu cái thức không nhân gì bỗng nhiên mà phát ra, làm sao lại không phân biệt mặt trăng sáng, trong lúc mặt trời đứng bóng? Ông hãy xét kỹ, nhận xét chín chắn, cái thấy gá vào mắt của ông, các tướng thì trả về cho tiền cảnh, cái gì có thể hình trạng được, thì mới thành có, cái gì không có tướng, thì thành ra không; còn cái thức như vậy, nhân đâu mà ra? Cái thức thì lay động, cái thấy thì đứng lặng, không phải hòa, không phải hợp, cho đến các sự nghe, ngửi, hay, biết, cũng đều như vậy. Không lẽ cái thức nhận biết không do đâu mà phát ra. Nếu cái thức đó không do đâu, thì nên biết cái thức đại nhận biết và cái căn đại thấy, nghe, hay, biết, vẳng lặng cùng khắp, bản tánh không nương vào đâu mà có; hai món đại ấy cùng với Không, Địa, Thủy, Hỏa, Phong, đều gọi là Thất đại, tánh thật là viên dung, vốn là tánh Như Lai tạng, không sanh, không diệt. A Nan, tâm ông nông nổi, không ngộ được cái nhận biết các điều thấy nghe, vốn là tánh Như Lai tạng. Ông hãy xét sáu cái thức là đồng hay là khác, là không hay là có, là không phải đồng, không phải khác, hay không phải không, không phải có. Ông vốn không biết trong Như Lai tạng, cái thức nơi tâm tánh là cái tác dụng nhận biết của tánh minh bản giác, và tánh minh bản giác thật là chân tánh của thức đại; bản giác diệu minh yên lặng cùng khắp Pháp giới, ẩn hiện thập phương hư không, đâu có chỗ ở, theo nghiệp mà phát hiện. Thế gian không biết, lầm là nhân duyên, và tánh tự nhiên, đều là những so đo phân biệt của Ý thức, chỉ có lời nói, toàn không có nghĩa chân thật. Khi bấy giờ, ông A Nan và cả đại chúng nhờ Phật nhiệm mầu chỉ bày, thân tâm vắng lặng, không điều ngăn ngại. Cả trong đại chúng đó, mỗi người tự biết tâm tánh cùng khắp mười phương, trông mười phương hư không như xem cái vật, cái lá nắm trong bàn tay; tất cả những vật có ra trong thế gian, đều tức là tâm tánh Bồ đề nhiệm mầu sáng suốt. Tâm tánh viên mãn cùng khắp, trùm chứa mười phương, trở lại xem cái thân cha mẹ sanh ra cũng như trong mười phương hư không kia, thổi một vi trần, dầu còn, dầu mất, chẳng khác biển lớn yên lặng, nổi lên một bọt nước, dầu sanh hay diệt, cũng không dính dáng gì. Rõ vậy tự biết nhận được tâm tánh bản lai thường trụ không diệt, lễ Phật chấp tay, được cái chưa từng có, ở trước Đức Như Lai, nói bài kệ tán thán Phật: Đức Thế Tôn bất động, Tổng trì tánh diệu trạm, Nói pháp Thủ Lăng Nghiêm, Thật hy hữu trong đời, Khiến chúng tôi tiêu diệt Vọng tưởng trong ức kiếp, Không trải qua tăng kỳ Mà chứng được Pháp thân. Nguyện nay đã chứng quả Thành được vị Bảo vương Lại hóa độ như thế Cho cả hằng sa chúng. Đem thâm tâm phụng sự Cõi nước như vi trần, Làm được như vậy mới Gọi là báo ơn Phật. Cúi xin đức Thế Tôn Chứng minh cho chúng tôi, Thệ nguyện quyết vào trước Trong ngũ trược ác thế; Nếu còn một chúng sanh Chưa thành được Phật đạo, Quyết không ở nơi đó Chịu chứng quả Niết bàn. Kính thưa Đức Đại Hùng, Đại Lực, Đại Từ Bi, Trông mong lại xét trừ Những điều lầm nhỏ nhiệm, Cho chúng tôi sớm lên Đến bậc Vô thượng giác, Nơi thập phương thế giới Ngồi đạo trường thuyết pháp. Tánh hư không bất diệt Dầu có thể tiêu mất, Tâm nguyện chắc chắn nầy, Quyết không hề lay động. NAM MÔ LĂNG NGHIÊM HỘI THƯỢNG PHẬT BỒ TÁT MA HA TÁT Quyển 4: Khi bấy giờ, ông Phú Lâu Na Di Đa La Ni Tử ở trong đại chúng, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, trật vai áo bên phải, đầu gối bên phải chấm đất, chấp tay cung kính mà bạch Phật rằng: Đức Thế Tôn có oai đức lớn, khéo vì chúng sanh diễn bày đệ nhất nghĩa đế của Như Lai. Đức Thế Tôn thường cho rằng trong những người thuyết pháp, tôi là bậc nhất, song nay tôi nghe pháp âm nhiệm mầu của Như Lai, cũng như người điếc, cách xa trăm bước, nghe tiếng muỗi mạt, vốn đã không thấy, huống nữa lại nghe. Tuy Phật chỉ rõ, khiến cho tôi trừ được lầm lạc, nhưng tôi chưa rõ chỗ rốt ráo, không còn nghi hoặc của nghĩa ấy. Bạch Thế Tôn, như bọn ông A Nan, tuy được khai ngộ, nhưng chưa trừ hết tập khí hữu lậu, còn bọn chúng tôi là những người đã lên đến bậc vô lậu trong hội nầy, thì tuy đã hết các lậu, nhưng nay nghe pháp âm của Như Lai vừa dạy, còn mắc phải những điều nghi hối. Bạch Thế Tôn, nếu như hết thảy các thứ Căn, Trần, Ấm, Xứ, Giới,… trong thế gian, đều là tánh thanh tịnh bản nhiên Như Lai tạng, thì làm sao bỗng nhiên lại sanh ra các tướng hữu vi như núi, sông, đất liền, thứ lớp dời đổi, trước sau quanh lộn. Lại đức Như Lai nói bốn món đại: địa, thủy, hỏa, phong, bản tánh viên mãn dung hòa, cùng khắp Pháp giới, vẳng lặng thường trụ. Bạch Thế Tôn, nếu tánh Địa đại cùng khắp, sao lại dung được Thủy đại; nếu tánh Thủy đại cùng khắp thì Hỏa đại không thể phát sanh; làm sao lại phát minh hai tánh Thủy đại và Hỏa đại đều cùng khắp hư không, không diệt lẫn nhau? Bạch Thế Tôn, tánh Địa đại là ngăn ngại, tánh hư không là rỗng suốt, làm sao hai đại ấy lại đều cùng khắp Pháp giới. Tôi nay không biết nghĩa ấy do đâu, xin Phật phát lòng đại từ, vén mây mê lầm cho tôi và trong đại chúng. Ông Mãn Từ Tử nói lời ấy rồi, năm vóc gieo xuống đất, kính mong lời dạy từ bi vô thượng của đức Như Lai. Khi bấy giờ, Đức Thế Tôn bảo ông Phú Lâu Na và các vị A la hán lậu tận Vô học trong hội rằng: Ngày nay Như Lai khắp vì trong hội nầy chỉ bày tánh chân thắng nghĩa trong thắng nghĩa, khiến cho ở trong hội nầy, những hàng định tánh Thanh Văn và hết thảy các bậc A la hán, chưa được hai phép nhân không pháp không, phát tâm hướng về thượng thừa, đều được chỗ tu hành chân chính, thiết thực không xao động của cảnh giới tịch diệt nhất thừa. Ông hãy nghe kỹ, tôi sẽ vì ông mà nói. Các ông Phú Lâu Na kính vâng pháp âm của Phật, lẳng lặng vâng nghe. Phật dạy: Ông Phú Lâu Na, như ông vừa nói: Đã là bản nhiên thanh tịnh, làm sao bỗng nhiên lại sanh ra có núi sông, đất liền. Vậy ông không thường nghe Như Lai chỉ dạy: Tánh giác là diệu minh, bản giác là minh diệu, hay sao? Ông Phú Lâu Na bạch: Thưa Thế Tôn, vâng, tôi thường nghe Phật chỉ dạy nghĩa ấy. Phật bảo: Ông bảo cái giác là minh, lại là vì bản tánh nó là minh, nên gọi nó là giác, hay là vì giác được cái không minh, mà gọi là minh giác? Ông Phú Lâu Na bạch: Nếu cái không minh đó mà gọi là giác, thì nó không minh được cái gì. Phật dạy: Nếu không có sở minh là không có minh giác, thì có sở không phải là giác, mà không sở, lại không phải là minh; và không minh, thì lại không phải là giác tánh trạm minh. Vậy tánh giác chắc là minh, do vọng tưởng mà làm ra có minh giác. Giác không có gì là sở minh, nhân có minh mà lập ra thành sở; đã giả dối lập ra có sở, mới sanh ra cái năng hư vọng của các ông. Trong tánh không đồng, không khác, nổi dậy thành ra có khác; khác với cái khác kia, thì nhân cái khác đó, mà lập thành cái đồng. Phát minh cái đồng, cái khác rồi, thì nhân đó, mà lập ra cái không đồng, không khác. Rối loạn như vậy, đối dãi với nhau sanh ra lao lự; lao lự mãi phát ra trần tướng, tự vẩn đục lẫn nhau; do đó, đưa đến những trần lao phiền não. Nổi lên thì thành thế giới, lặng xuống thì thành hư không; hư không là đồng, thế giới là khác; cái không đồng, không khác kia, thật là pháp hữu vi. Cái giác là sáng suốt, cái hư không thì không hay biết, hai cái đối đãi với nhau, thành có lay động, cho nên có phong luân nắm giữ thế giới. Nhân cái hư không, mà sanh ra có lay động, phát minh tánh cứng, thì thành có ngăn ngại; các loại kim bảo đều do minh giác lập ra tánh cứng, cho nên có kim luân nắm giữ cõi nước. Biết cái cứng, thì thành có kim bảo, rõ cái lay động, thì Phong đại phát ra; Phong đại và kim bảo cọ xát nhau, cho nên có Hỏa đại làm tánh biến hóa. Ngọn lửa xông lên, kim bảo sanh ra tánh ướt, cho nên có thủy luân trùm khắp các cõi mười phương. Lửa bốc lên, nước sa xuống, giao nhau phát hiện, mà lập thành tánh cứng; chỗ ướt là bể lớn, chỗ khô là gò nổi; do cái nghĩa ấy, trong bể lớn kia, hơi nóng thường bốc lên; trong gò nổi kia, sông ngòi thường chảy xuống. Thế nước kém thế lửa, thì kết thành núi cao, vậy nên đá núi, đập thì có tia lửa, nấu thì chảy ra nước. Thế đất kém thế nước, rút ra thành cỏ cây, vậy nên rừng rú bị đốt thì thành đất, vắt ra thì có nước. Vọng tưởng giao xen phát sanh, xoay vần làm chủng tử cho nhau; do nhân duyên ấy mà thế giới tiếp tục. Lại nữa, Phú Lâu Na, vọng tưởng chẳng phải gì khác, do tánh giác minh hóa ra lầm lỗi; cái sở minh hư vọng đã lập, thì phạm vi của cái năng minh không vượt khỏi được. Do nhân duyên ấy, nghe không ra ngoài tiếng, thấy không vượt khỏi sắc, sáu cái vọng: Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc, Pháp đã thành lập, thì do đó, chia ra có thấy, nghe, hay, biết. Đồng nghiệp ràng buộc lẫn nhau mà hợp, mà ly, mà thành, mà hóa. Cái thấy phát minh, thì các sắc phát ra; nhận rõ nơi sự thấy, thì thành có tư tưởng; rồi ý kiến khác nhau, thì thành ra ghét, tưởng niệm đồng nhau, thì thành ra yêu. Lan cái yêu ra, thành hạt giống, thu nạp tưởng niệm, thành ra cái thai, giao xen phát sanh, hấp dẫn bọn đồng nghiệp, nên có nhân duyên sanh ra yết la lam, át bồ đàm,… Thai sanh, noãn sanh, thấp sanh hay hóa sanh là tùy phần sở ưng: Noãn chỉ do tưởng niệm mà sanh, thai thì nhân ái tình mà có, thấp sanh thì cơ cảm mà hợp lại, còn hóa sanh thì phân ly mà ứng hiện. Khi tình, khi tưởng, khi hợp, khi ly, thay đổi lẫn nhau, nên các loài chịu nghiệp báo cũng theo đó mà lên xuống; do nhân duyên ấy, chúng sanh tiếp tục. Phú Lâu Na, tư tưởng thương yêu ràng buộc lẫn nhau, yêu mãi không rời, thì những cha mẹ con cháu trong thế gian sanh nhau không ngớt, bọn nầy thì lấy dục tham làm gốc. Lòng tham, lòng yêu giúp nhau tăng trưởng, tham mãi không thôi, thì các loài thai sanh, noãn sanh, thấp sanh, hóa sanh trong thế gian, tùy sức mạnh yếu, ăn nuốt lẫn nhau; bọn nầy thì lấy sát tham làm gốc. Lấy thân người ăn con dê, dê chết làm người, người chết làm dê, như vậy cho đến mười loài chúng sanh chết sống, sống chết, ăn nuốt lẫn nhau, nghiệp dữ cùng sanh ra tột đời vị lai, bọn nầy thì lấy đạo tham làm gốc. Người nầy mắc nợ thân mệnh người kia, người kia trả nợ cũ cho người nầy; do nhân duyên ấy, trải qua trăm nghìn kiếp, thường ở trong đường sống chết. Người nầy yêu cái tâm người kia, người kia ưa cái sắc người nầy, do nhân duyên ấy, trải qua trăm nghìn kiếp, thường ở trong vòng ràng buộc. Duy ba món sát, đạo, dâm làm gốc và vì nhân duyên đó, nghiệp quả tiếp tục. Phú Lâu Na, ba thứ tiếp tục điên đảo ấy, đều do tánh sáng suốt rõ biết của giác minh, nhân rõ biết phát ra có tướng, theo vọng tưởng mà Kiến chấp sanh ra, các tướng hữu vi núi sông, đất liền thứ lớp dời đổi, đều nhân cái hư vọng đó, mà xoay vần sau trước. Ông Phú Lâu Na bạch: Nếu cái diệu giác đó, bản tánh là diệu minh, cùng với tâm Như Lai, không thêm không bớt, mà không cớ gì bỗng nhiên lại sanh ra các tướng hữu vi núi sông, đất liền. Vậy Như Lai hiện nay đã chứng được bản giác diệu minh, không có phân biệt, thì đến lúc nào lại sanh ra núi sông, đất liền và các tập lậu hữu vi? Phật bảo ông Phú Lâu Na: Ví như người mê, nơi một xóm làng, lầm phương Nam làm phương Bắc, thì cái mê ấy, lại là nhân mê mà có hay nhân ngộ mà ra? Ông Phú Lâu Na bạch: Người mê như vậy, cũng không nhân mê, cũng không nhân ngộ. Vì sao? Mê, vốn không có gốc, làm sao lại nhân mê? Còn ngộ, không phải cái sanh ra mê, làm sao lại nhân ngộ? Phật dạy: Người mê kia, chính trong lúc mê, bỗng có người ngộ chỉ bày cho được ngộ. Phú Lâu Na, ý ông nghĩ thế nào? Người ấy giải trừ được cái mê đi, thì đối với xóm làng đó, còn có sanh mê nữa không? Ông Phú Lâu Na bạch: Thưa Thế Tôn, không. Phật dạy: Phú Lâu Na, Như Lai mười phương thì cũng như vậy. Cái mê đó không có gốc, tánh nó rốt ráo là rỗng không; xưa vốn không mê, chỉ hình như có mê, có giác; giác được cái mê, thì cái mê diệt và giác, không sanh ra mê. Cũng như người lòa thấy hoa đốm giữa hư không, nếu trừ được bệnh lòa, thì hoa đốm nơi hư không diệt mất. Bỗng có người ngu, ở chỗ hư không mà hoa đốm kia đã diệt rồi, lại mong đợi hoa đốm sanh lại. Ông xét người ấy, là ngu hay là trí huệ? Ông Phú Lâu Na bạch: Hư không vốn không có hoa đốm, vì hư vọng mà thấy có sanh diệt; thấy hoa đốm diệt mất nơi hư không đã là điên đảo rồi; lại còn muốn bảo nó sanh lại, thì thật là điên dại; làm sao còn gọi người điên như vậy, là ngu hay là trí huệ. Phật dạy: Ông hiểu như vậy, làm sao còn hỏi tánh giác diệu minh, không có phân biệt của chư Phật Như Lai, lúc nào lại sanh ra núi sông, đất liền. Lại như quặng vàng lộn với vàng ròng, khi vàng đã luyện thành ròng rồi, thì không xen lộn được nữa; cũng như cây đã đốt ra tro, thì không thành cây được nữa; Bồ đề Niết bàn chư Phật Như Lai thì cũng như vậy. Phú Lâu Na, ông lại hỏi về địa, thủy, hỏa, phong, bản tánh viên mãn dung hòa, cùng khắp Pháp giới, nghi sao tánh nước, tánh lửa lại không lấn nhau, diệt nhau và nêu ra hư không và Địa đại đều cùng khắp Pháp giới, lẽ ra không dung được nhau. Phú Lâu Na, ví như hư không, bản thể không phải các tướng, mà không ngăn cản các tướng phát huy. Vì sao? Phú Lâu Na, nơi hư không kia, mặt trời soi thì sáng, mây kéo thì tối, gió lay động, trời tạnh thì trong, hơi đọng, thì dục, bụi nổi thì mù, nước đứng thì ánh. Ý ông nghĩ thế nào? Các tướng hữu vi khác nhau như vậy, nhân các cái kia mà sanh, hay nhân hư không mà có. Phú Lâu Na, nếu như do các cái kia sanh ra, thì khi mặt trời soi, đã là mặt trời sáng, mười phương thế giới đều thành sắc của mặt trời, làm sao giữa hư không, lại còn thấy mặt trời tròn. Nếu là hư không sáng, thì hư không phải tự soi lấy, làm sao lúc giữa đêm mây mù, lại không sanh ra sáng chói. Vậy nên biết rằng cái sáng đó, không phải mặt trời, không phải hư không và cũng không ra ngoài hư không và mặt trời. Xét cái tướng vốn là vọng, không thể chỉ bày, cũng như muốn hoa đốm hư không kết thành quả hư không, làm sao còn gạn hỏi cái nghĩa lấn diệt lẫn nhau? Xét cái tánh, vốn là chân, chỉ là tánh giác diệu minh, tánh giác diệu minh, vốn không phải là nước hay là lửa, làm sao còn hỏi về nghĩa không dung được nhau? Bản tánh diệu minh chân thật thì cũng như vậy. Ông phát minh cái hư không, thì có hư không hiện ra; địa, thủy, hỏa, phong, mỗi mỗi phát minh, thì mỗi mỗi hiện ra; nếu cùng phát minh, thì cùng hiện ra. Thế nào là cùng hiện ra? Phú Lâu Na, như trong một chỗ có nước, hiện ra bóng mặt trời, hai người đồng xem mặt trời trong nước; rồi một người đi phương Đông, một người đi phương Tây, thì hai bên đều có mặt trời theo mình cùng đi, một cái về phương Đông, một cái về phương Tây, không có chuẩn đích nhất định. Không nên gạn hỏi rằng, mặt trời đó là một, sao lại mỗi cái đi theo mỗi người? Các mặt trời đã thành hai, làm sao trước kia chỉ hiện ra có một? Hư vọng quanh lộn như thế, không thể lấy gì làm bằng cứ. Phú Lâu Na, ông đem cái sắc, cái không, mà lấn cướp lẫn nhau nơi Như Lai tạng, thì Như Lai tạng theo ông làm sắc, làm không, cùng khắp Pháp giới; vậy nên trong ấy, gió thổi thì động, hư không thì lặng, mặt trời thì sáng, mây mù thì tối: Chúng sanh mê lầm, trái với giác tánh, hợp với trần tướng, cho nên phát ra trần lao, có các tướng thế gian. Tôi lấy tánh diệu minh, không diệt không sanh, hợp với Như Lai tạng, thì Như Lai tạng chỉ là tánh giác diệu minh, soi khắp Pháp giới; vậy nên trong ấy, một là vô lượng, vô lượng là một, trong nhỏ hiện ra lớn, trong lớn hiện ra nhỏ, đạo trường bất động cùng khắp thế giới mười phương, thân trùm cả hư không vô tận mười phương, nơi đầu một mãy lông, hiện ra cõi Bảo Vương, ngồi trong vi trần, chuyển bánh xe pháp lớn; diệt trần tướng, hợp giác tánh, nên phát ra tánh giác chân như nhiệm mầu sáng suốt. Nhưng Như Lai tạng bản tánh diệu viên, không phải là tâm, là không, là địa, là thủy, là phong, là hỏa; không phải là nhãn, là nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý; không phải là sắc, là thanh, hương, vị, xúc, pháp; không phải là Nhãn thức giới, cho đến không phải là Ý thức giới; không phải là minh, là vô minh, là hết minh, là hết vô minh, cho đến không phải là lão, là tử, là hết lão tử; không phải là khổ, là tập, là diệt, là đạo; không phải là trí, là đắc; không phải là bố thí, là trì giới, là tinh tấn, là nhẫn nhục, là thiền định, là trí huệ, là Ba la mật đa, cho đến cũng không phải là Như Lai, là Ứng Cúng, là Chánh Biến Tri; không phải là Đại Niết bàn, là đức Thường, đức Lạc, đức Ngã, đức Tịnh, vì cái đó, đều không là các pháp thế gian và xuất thế gian vậy. Tức cái bản tánh minh diệu Như Lai tạng, cũng tức là tâm, là không, là địa, là thủy, là phong, là hỏa; tức là nhãn, là nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý; tức là sắc, là thanh, hương, vị, xúc, pháp; tức là Nhãn thức giới, cho đến là Ý thức giới; tức là minh, là vô minh, là hết minh, là hết vô minh, cho đến tức là lão, là tử, là hết lão tử; tức là khổ, là tập, là diệt, là đạo; tức là trí, là đắc; tức là bố thí, là trì giới, là tinh tấn, là nhẫn nhục, là thiền định, là trí huệ, là Ba la mật đa, cho đến tức là Như Lai, là Ứng Cúng, là Chánh Biến Tri; tức là Đại Niết bàn, là đức Thường, đức Lạc, đức Ngã, đức Tịnh; do cái đó, tức là các pháp thế gian và xuất thế gian vậy. Tức cái tánh giác diệu minh Như Lai tạng, rời cả các nghĩa tức, phi và cũng là tức, là phi; làm sao chúng sanh ba cõi thế gian và các hàng Thanh văn, Duyên giác xuất thế gian, lấy cái tâm hay biết sự vật, mà đo lường được Vô thượng Bồ đề của Như Lai, dùng tiếng nói thế gian, mà vào được tri kiến của Phật. Ví như, những cây đàn cầm, sắt, không hầu, tỳ bà, tuy có tiếng hay, nhưng nếu không có ngón tay hay, thì rốt cuộc cũng không phát ra được. Ông cùng chúng sanh thì cũng như vậy. Tâm tánh chân thật, mỗi người đều đầy đủ, nhưng khi tôi ấn ngón tay, thì hải ấn phát ra hào quang, còn các ông tạm móng tâm lên, thì trần lao đã nổi, do vì không siêng năng cầu đạo vô thượng giác, ưa nhớ Tiểu thừa, được một ít đã cho là đủ. Ông Phú Lâu Na bạch: Chân tâm viên giác diệu minh của tôi và của Như Lai, đều viên mãn không hai, mà tôi, trước kia mắc vọng tưởng vô thủy, ở lâu trong luân hồi, nay được thánh thừa, còn chưa rốt ráo; Thế Tôn, thì khắp tất cả các vọng đều diệt trọn, chỉ có diệu dụng tánh chân thường. Xin hỏi đức Như Lai, hết thảy chúng sanh, vì nhân gì mà có vọng, tự che tánh diệu minh, mà chịu chìm đắm như vậy? Phật bảo ông Phú Lâu Na: Ông tuy trừ được lòng nghi, nhưng còn những điều lầm chưa dứt hết. Nay tôi lại đem những việc hiện tiền thế gian mà hỏi ông. Há ông không nghe trong thành Thất La Phiệt, có anh Diễn Nhã Đạt Đa, buổi mai lấy gương soi mặt, bỗng nhiên ưa cái đầu trong gương, lông mày, con mắt có thể thấy được, rồi giận trách cái đầu mình, sao lại không thấy mặt mày, cho là giống yêu quái, rồi không cớ gì phát điên bỏ chạy. Ý ông nghĩ thế nào, người đó vì nguyên nhân gì, vô cớ phát điên bỏ chạy? Ông Phú Lâu Na bạch: Tâm người ấy điên, chứ không có cớ gì khác. Phật dạy: Tánh diệu giác viên mãn sáng suốt, bản lai là diệu minh cùng khắp; đã gọi là vọng, thì làm sao có nhân, nếu có nguyên nhân, thì sao gọi là vọng? Chỉ tự các vọng tưởng xoay vần làm nguyên nhân cho nhau, theo cái mê, chứa cái mê, trải qua kiếp số như vi trần; tuy Phật phát minh, còn không biết trở về. Nguyên nhân cái mê như vậy, là nhân mê tự có, biết cái mê không có nhân, thì cái vọng không chỗ nương tựa, còn không có sanh, thì muốn đem cái gì mà làm cái diệt. Người được đạo Bồ đề như người tỉnh giấc kể chuyện trong chiêm bao; tâm dầu rõ ràng, nhưng không thể có nhân duyên gì lấy được những vật trong chiêm bao; huống nữa, cái mê lại không có nhân, vốn không có gì cả. Như anh Diễn Nhã Đạt Đa trong thành kia, đâu có nhân duyên, mà tự sợ đầu mình bỏ chạy, bỗng nhiên hết điên, thì cái đầu đâu phải từ ngoài đưa tới; dầu chưa hết điên, cái đầu cũng không hề mất. Phú Lâu Na, tánh của cái vọng là như vậy, làm sao còn có nguyên nhân được. Ông chỉ không theo phân biệt ba thứ tiếp tục nơi thế gian, nghiệp quả, chúng sanh, thì ba duyên đã đoạn rồi, ba nhân không sanh ra nữa, và tánh điên của anh Diễn Nhã Đạt Đa trong tâm ông tự hết. Hết, tức là tâm tánh Bồ đề trong sạch sáng suốt, bản lai cùng khắp Pháp giới, không do ai đưa lại, nào cần gì phải tu chứng nhọc nhằn vất vả. Ví như có người, ở nơi áo mình, buộc một hạt châu như ý, mà không hay biết, nên phải xin ăn rong ruổi phương xa, nghèo nàn rách rưới; tuy người ấy thật nghèo nàn, nhưng hạt châu không hề bị mất; bỗng nhiên có người khôn, chỉ hạt châu ra cho, thì người ấy muốn gì được nấy, thành giàu có lớn, rồi mới ngộ được hạt châu quý hóa ấy, không phải do ở ngoài đưa tới. Khi bấy giờ ông A Nan, ở trong đại chúng, đỉnh lễ chân Phật, đứng dậy bạch Phật: Đức Thế Tôn hiện nói về các nghiệp sát, đạo, dâm. Về ba duyên đoạn rồi, thì ba nhân không sanh và tánh điên anh Diễn Nhã Đạt Đa trong tâm tự hết; hết, tức là Bồ đề, không do người khác đưa tới; như thế, rõ ràng là nhân duyên rồi, làm sao đức Như Lai lại bỏ nghĩa nhân duyên? Chính tôi, do nhân duyên, mà tâm được khai ngộ. Bạch Thế Tôn, nghĩa ấy đâu chỉ đối với hàng Thanh văn Hữu học, ít tuổi như chúng tôi, mà hiện nay, trong hội nầy, ông Ma Ha Mục Kiền Liên, ông Xá Lợi Phất, ông Tu Bồ Đề,… cũng từ ông lão Phạm chí nghe lý nhân duyên của Phật, mà phát tâm khai ngộ, được thành quả vô lậu. Nay Phật dạy rằng Bồ đề không do nhân duyên, thì các thuyết tự nhiên của bọn Câu xá ly, thành Vương Xá, lại thành đệ nhất nghĩa. Xin Phật rủ lòng đại bi, khai phá chỗ mê lầm cho chúng tôi. Phật bảo ông A Nan: Tức như anh Diễn Nhã Đạt Đa trong thành, nếu diệt trừ được nhân duyên tánh điên, thì tánh không điên tự nhiên hiện ra; các lý nhân duyên, tự nhiên, cuối cùng chỉ như vậy. A Nan, như cái đầu anh Diễn Nhã Đạt Đa vốn là tự nhiên, nó đã tự nhiên như thế, thì có lúc nào lại không tự nhiên, vậy vì nhân duyên gì, mà sợ cái đầu, phát điên bỏ chạy? Nếu cái đầu tự nhiên, vì nhân duyên mà điên, thì sao không tự nhiên, vì nhân duyên mà mất đi? Cái đầu vốn không mất, điên sợ giả dối phát ra, chứ nào có thay đổi gì, mà phải nhờ đến nhân duyên. Nếu tánh điên vốn là tự nhiên và vốn có sẵn tánh điên sợ, thì khi chưa điên, cái điên núp vào chỗ nào? Nếu tánh không điên là tự nhiên, thì cái đầu vẫn không việc gì, sao lại phát điên bỏ chạy? Nếu ngộ được cái đầu sẵn có, biết mình vì phát điên mà bỏ chạy, thì nhân duyên và tự nhiên đều là hý luận. Vậy nên tôi nói: Ba duyên đoạn trừ rồi, tức là tâm Bồ đề. Tâm Bồ đề sanh, tâm sanh diệt diệt, đó chỉ là sanh diệt. Diệt và sanh đều hết, thì gọi là vô công dụng đạo. Nếu có tự nhiên, như vậy là phát minh tâm tự nhiên sanh, tâm sanh diệt diệt, thế cũng là sanh diệt và lấy cái không sanh diệt, gọi là tự nhiên. Cũng như, trong thế gian các tướng hòa lẫn thành ra một thể, gọi là tánh hòa hợp; cái không phải hòa hợp, thì gọi là tánh bản nhiên. Bản nhiên không phải bản nhiên, hòa hợp không phải hòa hợp, hòa hợp và bản nhiên đều rời bỏ, rời bỏ và không rời bỏ đều phi, câu nói nầy, mới gọi là pháp không hý luận. Bồ đề Niết bàn còn ở xa xôi, nếu ông không trải qua nhiều kiếp siêng năng tu chứng, thì tuy ghi nhớ diệu lý thanh tịnh mười hai bộ kinh của thập phương Như Lai, như cát sông Hằng, cũng chỉ càng thêm hý luận. Ông tuy nói lý nhân duyên, tự nhiên chắc chắn rõ ràng, người đời gọi ông là đa văn bậc nhất. Với cái huân tập đa văn nhiều kiếp đó, ông không thoát khỏi được nạn Ma Đăng Già, phải đợi thần chú Phật đỉnh của tôi, làm cho lửa dâm trong tâm nàng Ma Đăng Già hết đi và nàng được quả A na hàm, ở trong Phật pháp thành rừng tinh tấn, sông ái khô cạn, mới khiến cho ông được giải thoát. Vậy nên ông A Nan, tuy ông nhiều kiếp ghi nhớ những pháp bí mật diệu nghiêm của Như Lai, cũng không bằng một ngày tu nghiệp vô lậu, xa rời hai khổ ưa ghét thế gian. Như nàng Ma Đăng Già, trước kia là dâm nữ, do sức thần chú, tiêu diệt lòng ưa muốn, nay ở trong Phật pháp, gọi tên là Tánh Tỳ kheo ni, cùng với mẹ La Hầu La là Da Du Đà La, đồng ngộ nhân trước, biết đã trải qua nhiều đời, nhân vì tham ái mà khổ, một niệm huân tu pháp vô lậu thiện, thì người đã ra khỏi ràng buộc, người thì được Phật thọ ký, làm sao, ông còn tự dối mình, mắc míu mãi trong vòng nghe thấy. Ông A Nan và cả đại chúng nghe lời Phật dạy, tiêu hết nghi hoặc, ngộ được thật tướng, thân và ý đều yên lành, được pháp chưa từng có. Rồi lại thương khóc, đỉnh lễ chân Phật, quỳ dài chấp tay mà bạch Phật rằng: Đức vô thượng đại bi thanh tịnh Bảo Vương, khéo khai ngộ cho tâm chúng tôi, dùng các nhân duyên như thế, phương tiện dắt dìu những kẻ chìm đắm ra khỏi bể khổ. Bạch Thế Tôn, nay tôi tuy được vâng nghe pháp âm như vậy, nhận biết tâm tánh diệu minh Như Lai tạng cùng khắp thế giới mười phương, trùm chứa các cõi Phật bảo nghiêm thanh tịnh trong thập phương quốc độ; Như Lai lại trách tôi nghe nhiều mà vô dụng, không kịp thời tu tập. Nay tôi, giống như người lênh đênh xiêu bạt, bỗng nhiên gặp vị Thiên vương cho cái nhà tốt; tuy được nhà lớn, nhưng cốt yếu phải biết cửa mà vào; xin nguyện đức Như Lai không ngớt lòng đại bi, chỉ bày cho những kẻ mờ tối trong hội nầy, rời bỏ pháp Tiểu thừa và đều nhận được con đường phát tâm tu tập đi đến vô dư Niết bàn của Như Lai, khiến cho những hàng Hữu học biết cách uốn dẹp tâm phan duyên lâu đời, được pháp tổng trì, chứng nhập tri kiến của Phật. Ông A Nan nói lời ấy rồi, năm vóc gieo xuống đất, ở trong hội một lòng, mong đợi từ chỉ của Phật. Khi bấy giờ, Đức Thế Tôn thương xót các hàng Thanh văn, Duyên giác trong hội, chưa được tự tại nơi tâm Bồ đề, và những chúng sanh phát Bồ đề tâm trong đời mạt pháp về sau, khi Phật đã diệt độ rồi, khai thị cho đường tu hành nhiệm mầu pháp vô thượng thừa, và chỉ dạy ông A Nan với cả đại chúng rằng: Các ông quyết định phát tâm Bồ đề, đối với pháp Tam ma địa chư Phật Như Lai, không sanh mệt mỏi, thì trước hết, nên rõ hai nghĩa quyết định, trong lúc bắt đầu phát tâm tự giác. Thế nào là hai nghĩa quyết định trong lúc mới phát tâm. A Nan, nghĩa thứ nhất là: Nếu các ông muốn rời bỏ phép Thanh văn, tu thừa Bồ tát, vào tri kiến của Phật, thì nên xét kỹ chỗ phát tâm trong lúc tu nhân với chỗ Giác ngộ trong lúc chứng quả, là đồng hay là khác nhau. A Nan, nếu trong lúc tu nhân, đem cái tâm sanh diệt làm cái nhân tu hành, đề cầu cho được cái quả bất sanh bất diệt của Phật thừa, thì thật không thể được. Do cái nghĩa đó, ông nên xét các pháp, có thể làm ra trong khí thế gian, đều phải thay đổi diệt mất. A Nan, ông xét các pháp, có thể làm ra trong thế gian, có cái gì là không hư nát, nhưng không bao giờ nghe hư không tan rã, vì sao? Vì hư không không phải là cái bị làm ra, do đó, trước sau không hề tan mất. Thì trong thân ông, tướng cứng là Địa đại, thấm ướt là Thủy đại, hơi ấm là Hỏa đại, lay động là Phong đại; do bốn cái ấy ràng buộc, mà chia cái tâm tánh diệu minh vẳng lặng, cùng khắp của ông, làm ra cái thấy, cái nghe, cái biết, cái xét, từ đầu đến cuối, tạo thành năm lớp ô trược. Thế nào là trược? A Nan, ví như nước trong, bản nhiên là trong sạch, lại như những thứ bụi, đất, tro, cát, bản chất là ngăn ngại; hai bên bản nhiên thể chất khác nhau, không hợp nhau được. Có người thế gian lấy đất bụi kia, ném vào nước sạch, thì đất mất ngăn ngại, nước mất trong sạch, hình trạng đục vẩn, gọi đó là trược; năm lớp ô trược của ông cũng giống như vậy. A Nan, ông thấy hư không khắp thập phương thế giới. Bên không, bên thấy, không tách rời nhau; có cái không mà không thật thể, có cái thấy mà không hay biết, hai bên xen lộn giả dối thành ra lớp thứ nhất, gọi là Kiếp trược. Thân ông hiện ôm bốn món đại làm tự thể, che bít những sự thấy, nghe, hay, biết, thành bị ngăn ngại và trở lại làm cho các thứ địa, thủy, hỏa, phong, thành có hay biết; các điều đó xen lộn giả dối thành ra lớp thứ hai, gọi là Kiến trược. Lại trong tâm ông, những sự nhớ biết học tập, phát ra tri kiến, hiện ra tướng Lục trần, thì những sự đó, rời tiền trần không có tướng, rời tri giác không có tánh, xen lộn giả dối thành ra lớp thứ ba, gọi là Phiền não trược. Lại tâm ông ngày đêm sanh diệt không ngừng, tri kiến thì muốn lưu mãi ở thế gian, nhưng nghiệp báo xoay vần thì lại thường dời đổi cõi nầy cõi khác, những điều đó xen lộn giả dối thành ra lớp thứ tư, gọi là Chúng sanh trược. Cái thấy, cái nghe của ông, bản tánh vốn không khác nhau, do các trần cách trở, mà không duyên cớ gì, lại sanh ra khác nhau; trong tánh thì vẫn biết nhau, nhưng trong dụng thì trái ngược nhau, cái đồng và cái khác đã mất hẳn chuẩn đích, xen lộn giả dối thành ra lớp thứ năm, gọi là Mệnh trược. A Nan, nay ông muốn cho cái sự thấy, nghe, hay, biết, xa xa hợp với bốn đức thường, lạc, ngã, tịnh của Như Lai, thì trước hết, phải lựa bỏ cỗi gốc sống chết, nương theo cái không sanh diệt mà thành tựu tánh yên lặng cùng khắp. Dùng cái yên lặng mà xoay các thứ sanh diệt hư vọng trở về nơi bản giác, được tánh không sanh diệt của bản giác làm cái tâm tu nhân, thì về sau mới viên thành chỗ tu chứng của quả vị. Như lắng nước đục đựng trong một cái đồ để yên, để yên mãi không lay động, thì đất cát tự chìm xuống và nước trong hiện ra, thế gọi là bắt đầu uốn dẹp các khách trần phiền não; gạn bùn hết sạch, chỉ còn nước trong, thì gọi là dứt hẳn căn bản vô minh; tướng sáng suốt đã tinh thuần, thì tất cả các điều biến hiện đều không gây ra phiền não và hợp với đức mầu thanh tịnh của Niết bàn. Nghĩa thứ hai là các ông quyết muốn phát tâm Bồ đề, nơi thừa Bồ tát, sanh lòng đại dũng mãnh, quyết định rời bỏ các tướng hữu vi, thì nên xét rõ cỗi gốc phiền não, những cái vô minh phát nghiệp và nhuận sanh vô thủy đó, là ai làm, ai chịu? A Nan, ông tu đạo Bồ đề, nếu không suy xét cỗi gốc phiền não, thì không thể biết những căn trần phiền não, thì không thể biết những căn trần hư vọng, nó điên đảo ở chỗ nào; chỗ điên đảo còn không biết, thì làm sao uốn dẹp được nó và chứng được quả vị Như Lai. A Nan, ông hãy xem người thế gian cởi nút, hễ không thấy chỗ thắt nút, thì không biết cởi, chứ không hề nghe hư không bị phá tan. Vì sao? Vì hư không không có hình tướng, không thắt, không cởi vậy. Thì như ông hiện nay, sáu thứ nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý làm mai mối cho giặc, tự cướp của báu trong nhà; do đó, từ vô thủy, thế giới chúng sanh sanh ra ràng buộc, không thể vượt khỏi thế gian sự vật. A Nan, thế nào gọi là thế giới chúng sanh? Thế là dời đổi, giới là phương hướng. Nay ông nên biết những phương Đông, Tây, Nam, Bắc, Đông Nam, Tây Nam, Đông Bắc, Tây Bắc, phương Trên, phương Dưới là giới. Còn quá khứ, vị lai, hiện tại là thế. Phương hướng có mười, số lưu chuyển của thời gian có ba, hết thảy chúng sanh dệt cái vọng mà thành như vậy; nơi sự dời đổi trong thân, thế và giới gắn bó với nhau. Nhưng cái tánh của giới đó, tuy là mười phương, song có chỗ nhất định có thể chỉ rõ, thì thế gian chỉ nhận phương Đông, phương Tây, phương Nam, phương Bắc; phương Trên, phương Dưới, thì không có vị trí rõ ràng; ở giữa cũng không có chỗ nhất định. Số bốn đã rõ rồi, nhân với số thế, thì ba lần bốn, bốn lần ba, xoay vần là số mười hai, nhân luôn ba lớp, một chục thành trăm, thành nghìn, thì tổng quát trước sau, ở trong Lục căn, mỗi mỗi có thể có đến 1200 công năng. A Nan, trong Lục căn đó, ông lại xét định chỗ hơn, chỗ kém. Như Nhãn căn xem thấy, phía sau thì tối, phía trước thì sáng, phương trước toàn sáng, phương sau toàn tối, kể cả ngó qua bên phải bên trái, thì ba phần chỉ thấy được hai; tóm lại công năng của Nhãn căn không toàn vẹn, ba phần công năng còn thiếu một; vậy nên biết Nhãn căn chỉ có 800 công năng. Như Nhĩ căn nghe khắp, mười phương không sót, động thì giống như có xa có gần, tĩnh thì không có bờ bến; vậy nên biết Nhĩ căn đầy đủ 1200 công năng. Như Tỷ căn ngửi biết cả lúc thở ra, thở vào; chỉ có trong lúc thở ra, thở vào mà còn thiếu trong lúc hơi thở giao tiếp; xét nơi Tỷ căn, ba phần còn thiếu một; vậy nên biết Tỷ căn chỉ có 800 công năng. Như Thiệt căn phô bày cùng tột trí thế gian và xuất thế gian; lời nói có chừng hạn, nhưng lý thì vô cùng vô tận; vậy nên biết Thiệt căn đầy đủ 1200 công năng. Như thân căn biết Xúc trần, biết các cảm xúc trái và thuận; khi hợp lại thì biết, khi rời ra thì không biết, rời chỉ có một, hợp thì có hai; xét nơi thân căn, ba phần còn thiếu một; vậy nên biết thân căn chỉ có 800 công năng. Như Ý căn thầm lặng dung nạp tất cả các pháp thế gian, xuất thế gian trong mười phương ba đời; dù thánh hay phàm, không pháp nào không bao dung cùng tột bờ bến; vậy nên biết Ý căn đầy đủ 1200 công năng. A Nan, nay ông muốn ngược dòng sanh tử, xoay về tột gốc lưu chuyển, đến chỗ không sanh diệt, thì nên xét trong Lục căn hiện đương thụ dụng, cái gì là hợp, cái gì là ly, cái gì là sâu, cái gì là nông, cái gì là viên thông, cái gì là không viên mãn. Nếu ngộ được căn tánh viên thông nơi đó, ngược lại dòng nghiệp dệt vọng vô thủy kia và theo được tánh viên thông, thì đối với sự tu hành nơi cái căn không viên thông, hiệu quả xấp bội, một ngày bằng một kiếp. Tôi nay đã chỉ rõ Lục căn viên minh, vốn có những số lượng công năng như thế; tùy ông lựa chọn nơi căn nào, có thể nhập đạo được, thì tôi sẽ phát minh, để cho ông được tăng tiến trên đường tu hành. thập phương Như Lai, nơi Thập bát giới, mỗi giới đều tu hành được viên mãn Vô thượng Bồ đề; trong các giới đó, cũng không có gì là hơn, là kém. Chỉ vì ông căn cơ thấp kém, chưa thể viên mãn trí huệ, tự tại trong ấy được, nên tôi bảo ông chỉ đi sâu vào một căn, đi sâu đến chỗ không còn vọng tưởng, thì cả Lục căn kia một thời đều thanh tịnh. Ông A Nan bạch Phật rằng: Thưa Thế Tôn, làm sao ngược dòng hư vọng, đi sâu vào một căn, lại có thể khiến cho Lục căn một thời đều thanh tịnh? Phật bảo ông A Nan: Ông nay đã được quả Tu đà hoàn, đã diệt được kiến hoặc của ba cõi thế gian chúng sanh, song còn chưa biết những tập khí hư vọng chứa nhóm trong căn từ vô thủy; các tập khí kia, phải nhân tu đạo rồi mới đoạn được, huống chi, trong đó còn có rất nhiều phân loại, số mục sanh trụ dị diệt. Nay ông hãy xét Lục căn hiện tiền là một, hay là sáu. A Nan, nếu nói là một, thì lỗ tai sao không thấy, con mắt sao không nghe, đầu sao không đi, chân sao không nói; còn nếu Lục căn đó quyết định là sáu, thì như trong hội nầy, tôi chỉ dạy Pháp môn nhiệm mầu cho ông, trong Lục căn của ông, cái gì lĩnh thụ? Ông A Nan bạch: Tôi dùng lỗ tai nghe. Phật dạy: Lỗ tai ông tự nghe, nào dính gì đến thân với miệng, mà miệng ông thì hỏi nghĩa, thân ông thì đứng dậy kính vâng. Vậy nên biết rằng chẳng phải một, mà cuối cùng thành sáu, chẳng phải sáu, mà cuối cùng thành một, rốt cuộc cái căn của ông, vốn không phải là một, hay là sáu. A Nan, ông nên biết cái căn ấy không phải một, không phải sáu; do từ vô thủy đắm chấp trái ngược, nên nơi tánh viên trạm, sanh ra có cái một, cái sáu. Nay ông được quả Tu đà hoàn, tuy đã tiêu được cái sáu, nhưng còn chưa quên cái một. Như cái hư không, tham hợp với các khí mãnh; do hình trạng khí mãnh khác nhau, mà gọi là hư không khác nhau, đến khi trừ bỏ khí mãnh mà xem cái hư không, thì nói hư không là một; chứ cái hư không kia, làm sao lại vì ông mà thành đồng hay không đồng, huống nữa, lại gọi là một hay không phải một. Sáu căn hay biết của ông thì cũng như vậy. Do hai thứ sáng và tối, tỏ bày lẫn nhau, nơi tánh diệu viên, làm dính tánh yên lặng, phát ra cái thấy; cái thấy ánh ra thành sắc, kết cái sắc lại thành căn, gốc căn, thì gọi là tứ đại thanh tịnh, nhân gọi hình thể con mắt như quả bồ đào; bốn trần của phù căn rong ruổi chạy theo sắc. Do hai thứ động và tĩnh, đối chọi lẫn nhau, nơi tánh diệu viên, làm dính tánh yên lặng, phát ra cái nghe; cái nghe ánh ra thành tiếng, cuốn cái tiếng lại thành căn, gốc căn, thì gọi là tứ đại thanh tịnh, nhân gọi hình thể cái tai như lá mới cuốn; bốn trần của phù căn rong ruổi chạy theo tiếng. Do hai thứ thông và bịt, phát hiện lẫn nhau, nơi tánh diệu viên, làm dính tánh yên lặng, phát ra cái ngữi; cái ngửi ánh ra thành hương, thu nạp cái hương thành căn, gốc căn, thì gọi đó là tứ đại thanh tịnh, nhân gọi hình thể cái mủi như hai móng tay rủ xuống; bốn trần của phù căn rong ruổi chạy theo hương. Do hai thứ nhạt và có vị, tham chước lẫn nhau, nơi tánh diệu viên, làm dính tánh yên lặng, phát ra cái nếm; cái nếm ánh ra thành vị, thưởng thức cái vị thành, thưởng thức cái vị thành căn, gốc căn, thì gọi là tứ đại thanh tịnh, nhân gọi là tứ đại thanh tịnh, nhân gọi hình thể cái lưỡi như mặt trăng mới khuyết; bốn trần của phù căn rong ruổi chạy theo vị. Do hai thứ ly và hợp, so sánh lẫn nhau, nơi tánh diệu viên, làm dính tánh yên lặng, phát ra cái biết xúc; cái biết xúc ánh ra thành xúc, ôm nắm cái xúc thành căn, gốc căn, thì gọi là tứ đại thanh tịnh, nhân gọi hình thể cái thân như dáng trống cơm, bốn trần của phù căn rong ruổi chạy theo xúc. Do hai thứ sanh và diệt, tiếp tục lẩn nhau, nơi tánh diệu viên, làm dính tánh yên lặng, phát ra cái biết; cái biết ánh ra thành các pháp, tóm thu các pháp thành căn, gốc căn, thì gọi là tứ đại thanh tịnh, nhân gọi cái ý như cái thấy trong phòng tối; bốn trần của phù căn rong ruổi chạy theo pháp. A Nan, Lục căn như vậy do tánh giác minh kia chuyển thành minh giác, mất tánh sáng suốt, dính với cái vọng mà phát ra hay biết. Vậy nên ông nay rời sáng rời tối, thì không có cái thấy, rời động rời tĩnh, thì không có cái nghe, không thông không bịt, thì cái ngửi không sanh, không vị không nhạt, thì cái nếm không phát ra, không ly không hợp, thì cái biết xúc vốn không, không diệt không sanh, thì cái rõ biết không gá vào đâu. Ông chỉ đi theo những động tĩnh, hợp ly, không vị có vị, thông bịt, sáng tối, sanh diệt, cả mười hai tướng hữu vi đó, đi đến rút được một căn ra khỏi cái dính, phục vào bên trong, phục trở về tánh bản chân, phát ra tánh sáng suốt bản lai; tánh sáng suốt đó đã phát minh, thì năm chỗ dính khác cũng liền đó được giải thoát. Không do tiền trần mà khởi ra tri kiến thì cái sáng suốt không đi theo căn, chỉ gửi nơi căn mà phát ra; nhân đó Lục căn có thể dùng thay lẫn nhau. A Nan, há ông không biết ở trong hội nầy, ông A Na Luật không có mắt mà thấy, rồng Bạt Nan Đà không có tai mà nghe, thần nữ Căng Già không có mũi mà nghe hương, ông Kiều Phạm Bát Đề lưỡi khác mà biết vị, thần Thuấn Nhã Đa không có thân mà biết xúc, do hào quang Như Lai ánh ra, làm cho ông ấy tạm thời hiện ra có thân, chứ bản chất của ông là gió, thì thân thể vốn không có; các vị Thanh văn được tịch diệt trong diệt tận định, như ông Ma Ha Ca Diếp trong hội nầy, đã diệt Ý căn lâu rồi mà vẫn rõ biết cùng khắp, không nhân tâm niệm. A Nan, nếu các căn của ông đều được giải thoát trọn đủ, thì cái sáng suốt trong tâm tánh phát ra; như thế, thì các phù trần và các tướng biến hoá trong thế gian sự vật đều tiêu mất, như giá gặp nước sôi, ngay đó, liền hóa thành vô thượng tri giác. A Nan, như người thế gian kia, nhóm cái thấy nơi con mắt; nếu bảo nhắm kín, thì tướng tối hiện ra, cả Lục căn đều tối, đầu và chân giống nhau. Người kia lấy tay rờ quanh ngoài thân thể, thì tuy không thấy, nhưng một phen nhận được đầu và chân rồi, thì cái hay biết vẫn đồng như trước kia. Duyên vì cái thấy nhân nơi sáng, nên khi tối thành ra không thấy, chứ không có sáng mà tự phát ra cái thấy, thì các thứ tối hẳn không thể làm mờ được. Căn và trần đã tiêu rồi, làm sao tánh giác minh lại không thành nhiệm mầu cùng khắp. Ông A Nan bạch Phật rằng: Bạch Thế Tôn, như lời Phật dạy, chỗ phát tâm cầu được thường trụ trong lúc tu nhân, cốt yếu cần phải cân xứng với những đức tánh trong lúc chứng quả. Bạch Thế Tôn, như trong quả vị, nào là Bồ đề, Niết bàn, Chân như, Phật tánh, Am ma la thức, Không Như Lai tạng, Đại viên kính trí; bảy thứ danh hiệu tuy có khác nhau, nhưng thể tánh đều thanh tịnh viên mãn, vững chắc như Kim cang vương, thường trụ, không hư nát. Nếu cái thấy nghe, ngoài những tướng sáng tối, động tĩnh, thông bịt, rốt ráo không có tự thể cũng như cái tâm niệm, rời tiền trần ra, vốn không có gì, thì làm sao lại đem cái rốt ráo đoạn diệt ấy làm cái nhân tu hành, để được bảy quả thường trụ của Như Lai. Bạch Thế Tôn, nếu rời sáng tối, thì cái thấy rốt ráo là không; nếu không có tiền trần, thì tự tánh tâm niệm diệt mất, lui tới vần xoay, suy xét chín chắn, vốn không có tâm tôi và tâm sở của tôi; vậy đem cái gì làm nhân, để cầu được vô thượng giác. Đức Như Lai trước kia nói cái tánh hay biết yên lặng là viên mãn thường trụ, nhưng đã trái với lẽ thường, thì rốt cuộc chỉ thành hý luận, làm sao nhận được lời nói Như Lai là chân thật. Xin Phật rủ lòng đại từ, mở chỗ mê chấp cho tôi. Phật bảo ông A Nan rằng: Ông học về mặt nghe nhiều, chưa hết các điều lậu lạc, trong tâm chỉ biết suông cái nhân điên đảo mà cái điên đảo hiện thật trước đó thì chưa biết được, e ông thành thật còn chưa tin phục. Nay tôi thử đem những việc trần tục để trừ cái nghi của ông. Khi bấy giờ, đức Như Lai bảo ông La Hầu La đánh một tiếng chuông, rồi hỏi ông A Nan rằng: Nay ông có nghe chăng? Ông A Nan và đại chúng đều nói: Có nghe. Chuông hết kêu, không tiếng, Phật lại hỏi rằng: Nay ông có nghe chăng? Ông A Nan và đại chúng đều đáp: Không nghe. Khi đó, ông La Hầu La lại đánh một tiếng, Phật lại hỏi rằng: Nay ông có nghe chăng? Ông A Nan và đại chúng đều đáp: Có nghe. Phật hỏi ông A Nan: Thế nào, thì ông có nghe, còn thế nào, thì ông không nghe? Ông A Nan và đại chúng đều bạch Phật rằng: Tiếng chuông nếu đánh lên, thì chúng tôi được nghe; đánh lâu tiếng hết, tăm vang đều không còn, thì gọi là không nghe. Như Lai lại bảo ông La Hầu La đánh chuông, rồi hỏi ông A Nan rằng: Theo ông, nay có tiếng không? Ông A Nan và đại chúng đều nói: Có tiếng. Ít lâu tiếng dứt, Phật lại hỏi rằng: Theo ông, nay có tiếng không? Ông A Nan và đại chúng đều đáp: Không tiếng. Lát sau, ông La Hầu La lại đánh chuông, Phật lại hỏi rằng: Theo ông, nay có tiếng không? Ông A Nan và đại chúng đều nói: Có tiếng. Phật hỏi ông A Nan: Thế nào, ông gọi là có tiếng, còn thế nào, thì gọi là không tiếng? Ông A Nan và đại chúng đều bạch Phật rằng: Tiếng chuông, nếu đánh lên, thì gọi là có tiếng, đánh lâu tiếng hết, tăm vang đều không còn, thì gọi là không tiếng. Phật bảo ông A Nan và đại chúng rằng: Hôm nay các ông sao nói trái ngược, lộn xộn như thế? Đại chúng và ông A Nan đồng thời bạch Phật: Làm sao Phật bảo chúng tôi trái ngược lộn xộn? Phật dạy: Tôi hỏi ông về nghe, thì ông nói là nghe, tôi hỏi về tiếng, thì ông nói là tiếng, chỉ cái nghe và cái tiếng mà trả lời không nhất định như thế, sao lại không gọi là trái ngược lộn xộn? A Nan, tiếng tiêu mất, không tăm vang, thì ông gọi là không nghe; nếu thật không nghe, thì tánh nghe đã diệt rồi đồng như cây khô, khi tiếng chuông lại đánh lên, làm sao ông còn biết được. Biết có, biết không là tự cái tiếng hoặc không, hoặc có, đâu phải tánh nghe kia vì đó mà có, mà không; nếu tánh nghe thật là không, thì còn cái gì biết là không nữa. Vậy nên A Nan, cái tiếng ở trong cái nghe tự có sanh, có diệt, không phải vì ông nghe cái tiếng sanh diệt, mà làm cho tánh nghe của ông thành có, thành không. Ông còn lộn lạo, lầm cái tiếng làm cái nghe, lạ gì chẳng mê mờ, lấy cái thường làm cái đoạn. Tóm lại, ông không nên nói rằng rời các thứ động tĩnh, đóng mở, thông bịt, thì cái nghe không có tánh. Như người ngủ mê, nằm trên giường gối; trong nhà có người, trong lúc người kia ngủ, giã một cối gạo; người ấy trong chiêm bao nghe tiếng giã gạo, lầm thành vật khác, hoặc cho là đánh trống, hoặc cho là đánh chuông. Tức trong chiêm bao người ấy cũng lấy làm lạ rằng sao tiếng chuông lại vang lên như cây, như đá. Khi chợt tỉnh dậy, liền nghe tiếng chày, thì người ấy tự bảo người nhà rằng chính trong lúc chiêm bao, tôi đã lầm tiếng chày nầy là tiếng trống. A Nan, người đó, trong chiêm bao, đâu nhớ những chuyện động tĩnh, đóng mở, thông bịt; hình người kia tuy ngủ nhưng tánh nghe không mờ, dầu cho hình ông tiêu tan, thân mạng dời đổi diệt mất, làm sao tánh nghe ấy lại vì ông mà tiêu diệt được. Do các chúng sanh, từ vô thủy đến nay, đi theo sắc thanh, theo niệm mà lưu chuyển, không hề khai ngộ bản tánh thanh tịnh diệu thường; không theo cái thường, chỉ theo các thứ sanh diệt, do đó, đời đời bị tạp nhiễm mà phải lưu chuyển. Nếu bỏ cái sanh diệt, giữ tánh chân thường; cái sáng suốt chân thường hiện tiền, thì các tâm niệm căn, trần, thức, ngay đó đều tiêu mất; tướng vọng tưởng là trần, tánh phân biệt là cấu, hai cái đó đã xa rời, thì pháp nhãn của ông liền được trong suốt, làm sao lại không thành bậc vô thượng tri giác. NAM MÔ LĂNG NGHIÊM HỘI THƯỢNG PHẬT BỒ TÁT MA HA TÁT Quyển 5: Thưa Thế Tôn, tuy Như Lai đã dạy nghĩa quyết định thứ hai, song tôi xem trong thế gian, những người cởi nút, nếu không biết đầu nút ở đâu, thì chắc không thể cởi được. Bạch Thế Tôn, tôi và các hàng Hữu học Thanh văn trong hội nầy cũng giống như vậy. Từ vô thủy đến nay, chúng tôi cùng sanh, cùng diệt với các thứ vô minh, tuy được thiện căn nghe nhiều Phật pháp thế nầy, nhưng tiếng là xuất gia mà cũng như người sốt rét cách nhật; xin nguyện đức đại từ thương xót kẻ chìm đắm, chính nơi thân tâm hiện nay, chỉ cho chúng tôi thế nào là nút, do đâu mà cởi, cũng khiến cho chúng sanh khổ não vị lai được khỏi luân hồi, không sa vào ba cõi. Nói lời ấy rồi, ông A Nan và cả đại chúng, năm vóc gieo xuống đất, khóc lóc thành khẩn, trông mong lời khai thị vô thượng của Đức Như Lai. Khi bấy giờ, Đức Thế Tôn thương xót ông A Nan và hàng Hữu học trong hội, lại cũng vì tất cả chúng sanh đời vị lai tạo cái nhân xuất thế, làm cái đạo nhãn tương lai; Ngài dùng tay sáng ngời xoa đỉnh đầu ông A Nan. Liền khi ấy, trong tất cả thế giới, chư Phật mười phương, sáu thứ rung động; các Đức Như Lai, số như vi trần; trong các cõi ấy, mỗi Ngài đều có hào quang báu từ nơi đỉnh đầu phát ra; hào quang ấy, đồng một thời từ các cõi kia đến rừng Kỳ Đà, soi nơi đỉnh đầu của Đức Như Lai; tất cả đại chúng đều được cái chưa từng có. Khi bấy giờ, ông A Nan và cả đại chúng đều nghe các Đức Như Lai mười phương, số như vi trần, tuy khác miệng, nhưng đồng một lời, bảo ông A Nan rằng: Hay thay cho A Nan! Ông muốn biết cái câu sanh vô minh là cái đầu nút, khiến ông phải luân hồi sanh tử, thì nó chính là Lục căn của ông, chứ không phải vật gì khác; ông lại muốn biết tánh Vô thượng Bồ đề, khiến ông chóng chứng đạo quả an vui, giải thoát, vẳng lặng, diệu thường, thì cũng chính là Lục căn của ông, chứ không phải vật gì khác. Ông A Nan, tuy được nghe pháp âm như vậy, tâm còn chưa rõ, cúi đầu bạch Phật: Làm sao cái khiến cho tôi bị luân hồi, sống chết hay được an vui, diệu thường, cũng đều là Lục căn, chứ không phải vật gì khác? Phật bảo ông A Nan: Căn và trần, đồng một nguồn, cột và cởi không phải hai, cái thức phân biệt là luống dối như hoa đốm giữa hư không. A Nan, nhân cái trần, mà phát ra cái biết của căn, nhân cái căn, mà có ra cái tướng của trần, tướng phần sở kiến và kiến phần năng kiến đều không có tự tánh, như những hình cây lau gác vào nhau. Vậy nên nay ông chính nơi tri kiến, lập ra tướng tri kiến, thì tức là cỗi gốc vô minh; chính nơi tri kiến, không có tướng tri kiến, thì đó là vô lậu chân tịnh Niết bàn, làm sao trong ấy lại còn có vật gì khác. Khi bấy giờ, Đức Thế Tôn muốn lặp lại nghĩa nầy mà nói bài kệ rằng: Nơi chân tánh hữu vi là không, Vì duyên sanh, nên giống như huyễn; Vô vi, thì không sanh, không diệt, Chẳng thật như hoa đốm hư không. Nói cái vọng để tỏ cái chân, Vọng, chân ấy, cả hai đều vọng; Còn không phải chân và phi chân, Làm sao có năng kiến, sở kiến, Thức ở giữa, không có thật tánh, Vậy nên, như hình lau gác nhau. Cột và cởi đồng một sở nhân, thánh và phàm không có hai đường. Hãy xét tánh hình lau gác nhau, Đâu phải là không hay là có. Mê mờ nghĩa đó, là vô minh, Phát minh nghĩa đó, thì giải thoát. Cởi nút, tuy phải theo thứ lớp, Sáu đã cởi, một cũng không còn. Nơi các căn, chọn tánh viên thông, Nhập lưu được, thì thành chánh giác. Thức A đà na rất nhỏ nhiệm, Tập khí lưu hành như nước dốc; E lầm là chân hay phi chân, Nên tôi thường không diễn giảng đến, Tự tâm trở chấp lấy tự tâm, Không phải huyễn, thành ra pháp huyễn. Không chấp trước, không gì phi huyễn Cả cái phi huyễn còn không sanh, Pháp huyễn, làm sao thành lập được. Ấy gọi như huyễn Tam ma địa, Bảo giác chắc như Kim cang vương, Không nhiễm, tịnh như diệu liên hoa; Gẩy ngón tay, vượt hàng Vô học; Pháp ấy, không gì so sánh được, Là một đường thẳng vào Niết bàn, Của các Đức Thế Tôn mười phương. Lúc ấy, ông A Nan và cả đại chúng nghe lời từ bi dạy bảo của Phật, kệ tụng tinh túy, diệu lý trong suốt, tâm được khai ngộ, đồng tán thán là pháp chưa từng có. Ông A Nan chấp tay đỉnh lễ bạch Phật: Nay tôi nghe Phật mở lòng vô giá đại từ dạy cho những câu pháp chân thật thanh tịnh diệu thường, nhưng tâm còn chưa rõ thứ lớp cởi nút, đi đến cởi cả sáu, thì một cũng không còn, xin Phật rủ lòng đại bi thương xót trong hội nầy và những kẻ tương lai, bố thí cho pháp âm, rửa sạch những cấu nhiễm trầm trọng của chúng tôi. Liền khi ấy Đức Như Lai, nơi sư tử tọa, sửa áo Niết bàn tăng, vén áo tăng già lê, dựa ghế thất bảo, đưa tay nơi ghế, lấy cái khăn hoa của cõi trời Kiếp Ba La đã cúng cho ngài, rồi ở trước đại chúng, cột thành một nút, đưa cho ông A Nan xem và bảo rằng: Cái nầy gọi là gì? Ông A Nan và đại chúng đều bạch Phật rằng: Cái nầy gọi là nút. Lúc ấy Đức Như Lai lại cột khăn hoa thành một nút nữa và hỏi ông A Nan: Cái nầy gọi là gì? Ông A Nan và đại chúng lại bạch Phật rằng: Cái ấy cũng gọi là nút. Phật tuần tự cột khăn hoa như vậy, tổng cộng thành sáu nút, mỗi khi cột xong một nút, đều lấy cái nút vừa cột xong trong tay, đưa hỏi ông A Nan: Cái nầy gọi là gì? Ông A Nan và đại chúng cũng tuần tự đáp lại Phật: Cái ấy gọi là nút. Phật bảo ông A Nan: Khi tôi mới cột khăn thì ông gọi là nút, cái khăn hoa này, trước kia chỉ có một cái, cớ sao lần thứ hai, lần thứ ba, các ông cũng gọi là nút? Ông A Nan bạch Phật rằng: Thưa Thế Tôn, cái khăn hoa thêu dệt quý báu nầy vốn chỉ một thể, song theo ý tôi suy nghĩ, Như Lai cột một lần, thì được gọi là một nút, nếu cột một trăm lần, thì rốt cuộc phải gọi là trăm nút, huống chi, khăn nầy chỉ có sáu nút, không lên đến bảy, cũng không đứng ở số năm, sao Đức Như Lai chỉ cho cái đầu là nút, còn cái thứ hai, thứ ba, thì không gọi là nút? Phật bảo ông A Nan: Cái khăn hoa báu nầy, ông biết nó vốn chỉ có một cái, đến khi tôi cột sáu lần, thì ông gọi là sáu nút; ông hãy xem xét bản thể cái khăn nầy là đồng, nhân vì các nút mà hóa ra khác. Ý ông nghĩ sao, khi mới cột nút ban đầu, thì gọi là nút thứ nhất, như thế, cho đến cột lần thứ sáu, thì gọi là nút thứ sáu. Nay, tôi muốn gọi nút thứ sáu là nút thứ nhất, có được không? Bạch Thế Tôn, không; nếu còn sáu nút, thì cái gọi là thứ sáu, rốt cuộc không phải là cái thứ nhất; dầu cho tôi cố gắng biện bạch suốt đời, cũng không thể làm cho sáu nút đổi tên được. Phật dạy: Đúng thế, sáu nút không đồng nhau; tuy xét về bản thân, vẫn do một cái khăn tạo ra, nhưng rốt cuộc không thể làm cho sáu nút xáo lộn lẫn nhau. Sáu căn của ông thì cũng như vậy; trong thể ráo rốt đồng nhau, sanh ra rốt ráo khác nhau. Phật bảo ông A Nan: Chắc hẳn ông không muốn thành ra sáu nút và trông mong chỉ thành một thể, thì ông phải làm thế nào? Ông A Nan bạch: Nếu còn những nút đó, thì thị phi sôi nổi, trong đó, tự sanh ra nút nầy không phải nút kia, nút kia không phải nút nầy. Nếu ngày nay, Đức Như Lai cởi bỏ tất cả, không sanh nút nữa thì, không có bỉ thử, còn không gọi là một, làm sao mà thành sáu được. Phật dạy: Cái nghĩa cởi cả sáu, một cũng không còn, thì cũng như thế. Do từ vô thủy, tâm ông điên loạn, tri kiến vọng phát ra, vọng phát mãi không thôi, làm cho tri kiến sanh bệnh, phát ra trần tướng; như trông con mắt mỏi mệt, thì có hoa đốm lăng xăng; tất cả những tướng thế gian, núi sông, đất liền, sống chết, Niết bàn, không nhân gì rối rít khởi lên, trong tánh sáng suốt yên lặng, đều là những tướng hoa đốm điên đảo do bệnh mê lầm phát ra. Ông A Nan bạch: Cái bệnh mê lầm giống như cái nút kia, làm sao cởi bỏ cho được? Đức Như Lai, lấy tay cầm cái khăn có nút, kéo riêng mối bên trái, rồi hỏi ông A Nan rằng: Thế nầy có cởi được chăng? Ông A Nan bạch: Thưa Thế Tôn, không. Phật liền lấy tay kéo riêng mối bên phải, rồi lại hỏi ông A Nan: Thế nầy có cởi được chăng? Ông A Nan bạch: Thưa Thế Tôn, không. Phật bảo ông A Nan: Nay tôi lấy tay kéo mối bên phải, bên trái mà rốt cuộc không cởi được, vậy ông dùng phương tiện thế nào mà cởi cho được. Ông A Nan bạch Phật rằng: Thưa Thế Tôn, nên mở nơi trung tâm cái nút thì tan rã ngay. Phật bảo ông A Nan: Đúng thế, đúng thế, muốn trừ cái nút thì phải cởi nơi trung tâm. A Nan, tôi nói Phật pháp do nhân duyên sanh, không phải lấy những tướng hòa hợp thô phù của thế gian. Như Lai phát minh các pháp thế gian và xuất thế gian, đều biết rõ bản nhân của nó theo những duyên gì mà phát ra, cho đến một giọt mưa ở ngoài hằng sa thế giới cũng biết số mục, hiện tiền các thứ cây tùng thẳng, cây gai cong, chim hộc trắng, chim quạ đen, đều rõ nguyên do. Vậy nên A Nan, tùy tâm ông lựa chọn nơi Lục căn; nếu trừ được cái nút nơi căn ấy rồi, thì trần tướng tự tiêu diệt; các vọng đã tiêu mất, thì chả phải chân là gì. A Nan, nay tôi lại hỏi ông: Cái khăn hoa nầy hiện có sáu nút, nếu đồng một thời cởi ra, thì có thể đồng một thời trừ hết được chăng? Ông A Nan bạch: Thưa Thế Tôn, không. Những cái nút nầy, khi cột lại, vốn có thứ lớp, thì ngày nay cũng theo thứ lớp mà cởi; sáu cái nút tuy đồng một thể, nhưng cột lại không đồng một thời, thì khi cởi nút, làm sao đồng một thời, mà trừ hết được? Phật dạy: Việc cởi trừ cái nút nơi Lục căn cũng giống như vậy. Căn ấy khi bắt đầu cởi ra, thì trước hết được nhân không, đến khi tánh không viên mãn sáng suốt, thì giải thoát pháp chấp. Pháp chấp được giải thoát rồi, cả cái nhân không và pháp không cũng không còn; thế thì gọi là Bồ tát do Tam ma địa mà chứng được Vô sanh nhẫn. Ông A Nan và cả đại chúng, nhờ Phật khai thị, huệ nhãn được viên dung, thông suốt, không còn điều gì nghi hoặc, đồng thời chấp tay, đỉnh lễ nơi hai chân mà bạch Phật rằng: Ngày nay, chúng tôi thân tâm sáng suốt, chóng được vô ngại; song tuy ngộ được cái nghĩa một và sáu đều không còn, nhưng còn chưa rõ căn tánh bản lai viên thông. Thưa Thế Tôn, chúng tôi xiêu giạt bơ vơ nhiều kiếp, ngờ đâu lại được dự vào dòng giống của Phật, như đứa con mất sữa, bổng nhiên gặp được từ mẫu. Nếu nhân cơ hội nầy mà được thành đạo, chỗ bản ngộ phù hợp với đạo lý vi diệu đã được nghe, thì cùng với những người chưa nghe, không có sai khác. Xin Phật rủ lòng đại bi ban cho chúng tôi những pháp bí mật trang nghiêm; thành tựu lời chỉ dạy cuối cùng của Như Lai. Nói lời ấy rồi, năm vóc gieo xuống đất, lui về an trụ nơi cơ cảm sâu nhiệm, trông mong Phật tâm truyền cho. Khi bấy giờ, Đức Thế Tôn bảo khắp các vị Đại bồ tát và các vị lậu tận Đại A la hán trong chúng rằng: Các ông là những vị Bồ tát và A la hán sanh trưởng trong Phật pháp, đã chứng quả Vô học, nay tôi hỏi các ông: Trong lúc ban đầu mới phát tâm, trong thập bát giới, ngộ được viên thông ở giới nào và do phương tiện gì được Tam ma địa? Bọn ông Kiều Trần Na, năm vị Tỳ kheo, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đỉnh lễ nơi chân Phật mà bạch Phật rằng: Ở Lộc uyển và ở Kê viên, chúng tôi được xem thấy Đức Như Lai khi mới thành đạo. Chúng tôi do tiếng nói của Phật, tỏ ngộ được Tứ đế. Phật hỏi trong hàng Tỳ kheo, thì trước tiên tôi thưa đã hiểu. Như Lai ấn chứng cho tôi cái tên là A Nhã Đa. Đi sâu vào bản tánh nhiệm mầu, thì âm thanh thật là viên dung; tôi do âm thanh mà được quả A la hán. Phật hỏi về viên thông, như chỗ chứng của tôi, thì do âm thanh là hơn cả. Ông Ưu Ba Ni Sa Đà liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đỉnh lễ nơi chân Phật mà bạch Phật rằng: Tôi cũng được thấy Phật trong lúc mới thành đạo; tôi quán tưởng bất tịnh, sanh lòng nhàm chán rời bỏ tột bậc, ngộ cái tánh của các sắc, từ tướng bất tịnh đến tướng xương trắng, tướng vi trần, rồi tan về hư không; cả hai cái không và cái sắc đều không, thành đạo Vô học. Đức Như Lai ấn chứng cho tôi cái tên là Ni Sa Đà; sắc của trần cảnh đã hết, sắc của tánh diệu được mật viên. Tôi do sắc tướng mà chứng quả A la hán. Phật hỏi về viên thông, như chỗ chứng của tôi, thì do Sắc trần là hơn cả. Ông Hương Nghiêm đồng tử liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đỉnh lễ nơi chân Phật mà bạch Phật rằng: Tôi nghe Đức Như Lai dạy tôi quan sát chín chắn các tướng hữu vi. Khi ấy tôi từ giã Phật, đầu hôm về tĩnh tọa trong nhà thanh trai, thấy các Tỳ kheo đốt hương trầm thủy, hơi hương vẳng lặng bay vào trong mũi tôi. Tôi quán cái hơi ấy, không phải là cây, không phải là không, không phải là khói, không phải là lửa, đi ra không dính vào đâu, đến nơi cũng không do đâu; do đó, ý niệm phân biệt tiêu diệt, phát minh tánh vô lậu. Đức Như Lai ấn chứng cho tôi cái hiệu là Hương Nghiêm. Tướng hương tiền trần bổng diệt, thì diệu tánh của hương là mật viên. Tôi do hương nghiêm mà chứng quả A la hán. Phật hỏi về viên thông, như chỗ chứng của tôi, thì do Hương trần là hơn cả. Hai vị Pháp vương tử Dược Vương, Dược Thượng, cùng với năm trăm Phạm Thiên trong hội, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đỉnh lễ nơi chân Phật mà bạch Phật rằng: Từ kiếp vô thủy, chúng tôi làm lương y thế gian, trong miệng thường nếm những cỏ cây, kim thạch trong thế giới Ta Bà nầy, số mục lên đến mười vạn tám nghìn, biết hết các vị đắng, chua, mặn, nhạt, ngọt, cay,… cùng với các vị biến đổi, do các vị kia hòa hợp cùng sanh ra; thứ nào là lạnh, thứ nào là nóng, thứ nào có độc, thứ nào không độc, tôi đều biết cả. Được thừa sự các Đức Như Lai, rõ biết bản tánh của Vị trần, không phải không, không phải có, không phải tức là thân tâm, không phải thoát ly thân tâm; do phân biệt đúng bản tánh Vị trần mà được khai ngộ. Nhờ Phật ấn chứng cho anh em chúng tôi cái danh hiệu là Dược Vương và Dược Thượng Bồ tát; nay ở trong hội nầy làm vị Pháp vương tử. Chúng tôi nhân vi trần mà Giác ngộ, lên bậc Bồ tát. Phật hỏi về viên thông, như chỗ chứng của chúng tôi, thì do Vị trần là hơn cả. Ông Bạt Đà Bà La, với mười sáu vị Khai sĩ đồng bạn, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đỉnh lễ nơi chân Phật mà bạch Phật rằng: Bọn tôi, trước kia nơi Đức Phật Oai Âm Vương, nghe pháp xuất gia. Trong lúc chư tăng tắm, tôi theo thứ lớp vào phòng tắm; bỗng nhiên ngộ được chân tánh của nước, đã không rửa bụi, cũng không rửa mình, chặng giửa yên lặng, được chỗ không có gì. Túc tập không quên, nên đến ngày nay theo Phật xuất gia, được thành quả Vô học. Đức Phật kia, gọi tôi tên là Bạt Đà Bà La. Do phát minh diệu tánh của Xúc trần, thành được bậc Phật tử trụ. Phật hỏi về viên thông, như chỗ chứng của tôi, thì do Xúc trần là hơn cả. Ông Ma Ha Ca Diếp và bà Tử Kim Quang Tỳ kheo ni,… liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đỉnh lễ nơi chân Phật mà bạch Phật rằng: Kiếp xưa, trong cõi nầy, có Đức Phật ra đời, tên là Nhựt Nguyệt Đăng diệt độ rồi, chúng tôi thắp đèn sáng mãi cúng dàng xá lợi, lại lấy vàng thắm thếp hình tượng Phật. Từ đó đến nay, đời nào đời nào, thân thể thường viên mãn, sáng ngời như vàng thắm. Bọn Tử Kim Quang Tỳ kheo ni nầy, tức là quyến thuộc của tôi lúc đó, cũng đồng một thời phát tâm như tôi. Tôi quán trong thế gian, Lục trần đều dời đổi tan nát, chí dùng pháp không tịch, tu định diệt tận, thì thân tâm mới có thể trải qua trăm nghìn kiếp như một thời gian gẩy ngón tay. Tôi do quán được các pháp là rỗng không, mà thành quả A la hán. Đức Thế Tôn bảo tôi tu hạnh đầu đà bậc nhất. Diệu tánh của các pháp được khai ngộ, thì tiêu diệt các lậu. Phật hỏi về viên thông, như chỗ chứng của tôi, thì do Pháp trần là hơn cả. Ông A Na Luật Đà liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đỉnh lễ nơi chân Phật mà bạch Phật rằng: Lúc tôi mới xuất gia, thường thích nằm ngủ, nên Đức Như Lai quở tôi là loài súc sanh. Nghe lời Phật quở, tôi khóc lóc tự trách, suốt bảy ngày không ngủ, hư cả hai con mắt. Đức Thế Tôn dạy tôi tu pháp Lạc kiến Chiếu minh Kim cang Tam ma địa. Tôi không do con mắt, xem thấy mười phương rỗng suốt tinh tường như xem cái quả trong bàn tay; Đức Như Lai ấn chứng cho tôi thành quả A la hán. Phật hỏi về viên thông, như chỗ chứng của tôi, thì xoay cái thấy trở về bản tánh, đó là thứ nhất. Ông Chu Lợi Bàn Đặc Ca liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đỉnh lễ nơi chân Phật mà bạch Phật rằng: Tôi thiếu tụng trì, không có huệ đa văn. Khi mới gặp Phật, nghe pháp và xuất gia, tôi cố nhớ một câu kệ của Như Lai, song trong một trăm ngày, hễ nhớ trước thì quên sau, mà nhớ sau thì quên trước. Phật thương tôi ngu muội, dạy tôi phép an cư, điều hòa hơi thở ra vào. Tôi quán hơi thở, cùng tột các tướng sanh, trụ, dị, diệt nhỏ nhiệm, đến từng sát na; tâm tôi rỗng suốt, được đại vô ngại, cho đến hết các lậu, thành quả A la hán, trước pháp tọa của Phật, được ấn chứng thành quả Vô học. Phật hỏi về viên thông, như chỗ chứng của tôi, thì xoay hơi thở về tánh rỗng không, đó là thứ nhất. Ông Kiều Phạm Bát Đề liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đỉnh lễ nơi chân Phật mà bạch Phật rằng: Tôi mắc khẩu nghiệp, khinh rẻ, chế giễu vị Sa môn trong kiếp quá khứ, nên đời đời mắc bệnh nhai lại như trâu. Đức Như Lai chỉ dạy cho tôi Pháp môn Nhất vị thanh tịnh tâm địa. Tôi nhờ vậy, mà diệt được phân biệt vào Tam ma địa; tôi quán tánh biết vị, không phải thân thể, không phải ngoại vật, liền đó vượt khỏi các lậu thế gian, bên trong giải thoát thân tâm, bên ngoài rời bỏ thế giới, xa rời ba cỏi như chim sổ lồng, rời hết cấu nhiễm, tiêu diệt trần tướng, nên pháp nhãn được thanh tịnh, thành quả A la hán. Đức Như Lai ấn chứng cho tôi lên bậc Vô học. Phật hỏi về viên thông, như chỗ chứng của tôi, trả các vị về phân biệt, xoay cái biết về tự tánh, đó là thứ nhất. Ông Tất Lăng Già Bà Ta liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đỉnh lễ nơi chân Phật mà bạch Phật rằng: Tôi lúc mới phát tâm theo Phật nhập đạo, thường nghe Đức Như Lai dạy về những việc không vui được trong thế gian. Lúc đi khất thực trong thành, tâm tôi đang suy nghĩ Pháp môn Phật dạy, giữa đường, không ngờ bị gai độc đâm vào chân, cả mình đau đớn. Tâm niệm tôi có biết cái đau đớn ấy; tuy biết đau đớn nhưng đồng thời giác biết nơi tâm thanh tịnh, không có cái đau và cái biết đau. Tôi lại suy nghĩ: Một thân thể này, lẽ đâu có hai tánh biết; nhiếp niệm chưa bao lâu, thì thân tâm bỗng nhiên rỗng không; trong ba lần bảy ngày, các lậu đều tiêu hết, thành quả A la hán; được Phật ấn chứng lên bậc Vô học. Phật hỏi về viên thông, như chỗ chứng của tôi, thì thuần một giác tánh, rời bỏ thân thể, đó là thứ nhất. Ông Tu Bồ Đề liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đỉnh lễ nơi chân Phật mà bạch Phật rằng: Từ nhiều kiếp đến nay, tâm tôi được vô ngại, tự nhớ thụ sanh nhiều đời như số cát sông Hằng; lúc còn trong thai mẹ, cũng liền biết tánh không tịch, như thế cho đến mười phương đều thành rỗng không và cũng khiến cho chúng sanh chứng được tánh không; nhờ Đức Như Lai phát minh tánh giác là chân không, nên tánh không được viên mãn sáng suốt, chứng quả A la hán, liền vào bảo minh không hải của Như Lai, tri kiến đồng như Phật, được ấn chứng thành quả Vô học; tánh giải thoát rỗng không, tôi là hơn cả. Phật hỏi về viên thông, như chỗ chứng của tôi: Các tướng đều xoay vào phi tướng, năng phi và sở phi đều hết, xoay các pháp trở về chỗ không có gì, đó là thứ nhất. Ông Xá Lợi Phất liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đỉnh lễ nơi chân Phật mà bạch Phật rằng: Từ nhiều kiếp đến nay, chỗ nhận thấy của tôi được thanh tịnh; tuy tôi thụ sanh nhiều đời như số cát sông Hằng như vậy, mà đối với các pháp biến hóa thế gian và xuất thế gian, hễ thấy được đều thông suốt, không có ngăn ngại. Tôi ở giữa đường, gặp anh em ông Ca Diếp Ba theo rõi, nói pháp nhân duyên, thì ngộ được tâm không có bờ bến. Tôi theo Phật xuất gia, chỗ nhận thấy sáng suốt viên mãn, được pháp đại vô úy, thành quả A la hán, làm trưởng tử của Phật, từ miệng Phật mà sanh ra, do pháp Phật mà hóa sanh. Phật hỏi về viên thông, như chỗ chứng của tôi, thì tánh thấy của tâm thể phát ra sáng suốt, cùng tột các tri kiến, đó là thứ nhất. Ngài Phổ Hiền Bồ tát liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đỉnh lễ nơi chân Phật mà bạch Phật rằng: Tôi đã từng làm Pháp vương tử cho các Đức Như Lai như số cát sông Hằng; thập phương Như Lai dạy các đệ tử có căn cơ Bồ tát, tu hạnh Phổ Hiền, hạnh đó, do tôi mà đặt tên như vậy. Thưa Đức Thế Tôn, tôi dùng tánh nghe của tâm thể phân biệt tất cả tri kiến của chúng sanh. Nếu ở phương khác, cách ngoài hằng sa thế giới, có một chúng sanh, trong tâm phát được hạnh nguyện Phổ hiền, thì liền trong lúc ấy, tôi cưỡi voi sáu ngà, phân thân thành trăm nghìn, đến chỗ người ấy. Dầu cho người ấy nghiệp chướng còn sâu, chưa thấy được tôi, tôi cũng thầm kín xoa đỉnh đầu người ấy, ủng hộ an ủi, khiến cho được thành tựu. Phật hỏi về viên thông, tôi nói chỗ bản nhân của tôi là phát minh tánh nghe của tâm thể, phân biệt được tự tại, đó là thứ nhất. Ông Tôn Đà A Nan đà liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đỉnh lễ nơi chân Phật mà bạch Phật rằng: Lúc tôi mới xuất gia theo Phật nhập đạo, tuy giữ đủ giới luật, nhưng trong lúc tu Tam ma địa, tâm thường tán loạn, chưa được quả vô lậu. Đức Thế Tôn dạy tôi và ông Câu Si La quán đầu lỗ mũi trắng. Lúc tôi bắt đầu tu quán ấy, trải qua ba lần bảy ngày, thấy hơi thở trong mũi ra vào như khói, thân tâm bên trong sáng soi thông suốt thế giới, khắp nơi thành trống không thanh tịnh, như ngọc lưu ly; tướng khói lần lần tiêu mất, hơi thở hóa thành trắng, đến khi tâm được khai ngộ, các lậu hết sạch, thì những hơi thở ra vào hóa thành hào quang, soi khắp thập phương thế giới, được quả A la hán. Đức Thế Tôn thọ ký cho tôi sẽ được quả Bồ đề. Phật hỏi về viên thông, tôi dùng phép nhiếp thu ý niệm nơi hơi thở, yên lặng lâu ngày, phát ra sáng suốt, sáng suốt viên mãn, diệt hết các lậu, đó là thứ nhất. Ông Phú Lâu Na Di Đa La Ni Tử liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đỉnh lễ nơi chân Phật mà bạch Phật rằng: Tôi từ nhiều kiếp đến nay, tài biện thuyết được vô ngại, tuyên dương các pháp Khổ, Không, thấu suốt tướng chân thật, như thế cho đến các Pháp môn bí mật hằng sa Như Lai, tôi phương tiện chỉ bày trong chúng, được sức vô úy. Đức Thế Tôn biết tôi có tài biện thuyết lớn lao, nên dùng pháp luân âm thanh, dạy tôi tuyên dương Chánh pháp. Tôi ở trước Phật, giúp Phật Chuyển pháp luân, nhân nói Chánh pháp, thành quả A la hán. Đức Thế Tôn ấn chứng cho tôi thuyết pháp hơn cả. Phật hỏi về viên thông, tôi dùng pháp âm hàng phục tà ma ngoại đạo, tiêu diệt các lậu, đó là thứ nhất. Ông Ưu Ba Ly liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đỉnh lễ nơi chân Phật mà bạch Phật rằng: Chính tôi được theo Phật vượt thành xuất gia, xem thấy Đức Như Lai sáu năm siêng tu khổ hạnh, thấy Đức Như Lai hàng phục bọn tà ma, đối trị các ngoại đạo, giải thoát các lậu tham dục thế gian; tôi được nhờ Phật dạy giữ giới, cho đến ba nghìn uy nghi, tám vạn hạnh vi tế, các tánh nghiệp và giá nghiệp thảy đều thanh tịnh; do đó, thân tâm được tịch diệt, thành quả A la hán, nay làm vị cương kỷ trong chúng của Như Lai; Phật ấn chứng cho tôi giữ giới tu thân hơn cả trong chúng. Phật hỏi viên thông, tôi do chấp trì cái thân mà thân được tự tại, lần đến chấp trì cái tâm mà tâm được thông suốt, về sau cả thân và tâm tất cả đều viên thông, tự tại, đó là thứ nhất. Ông Ma Ha Mục Kiền Liên liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đỉnh lễ nơi chân Phật mà bạch Phật rằng: Lúc trước tôi khất thực giữa đường, gặp ba anh em họ Ca Diếp Ba là ông Ưu Lâu Tần Loa, ông Già Gia và ông Na Đề, giảng nói nghĩa lý nhân duyên sâu xa của Như Lai; tôi liền phát tâm, được rất thông suốt; Như Lai ban cho áo ca sa đắp trên mình, râu tóc tự rụng. Tôi đi khắp mười phương được không ngăn ngại, phát minh thần thông, được trong chúng suy tôn là vô thượng, thành quả A la hán. Không những riêng Đức Thế Tôn, mà thập phương Như Lai đều khen sức thần thông của tôi thanh tịnh tròn sáng, tự tại không e sợ. Phật hỏi về viên thông, tôi do xoay ý niệm trở về tánh viên trạm nên tâm trí mở bày, như lắng nước đục, lâu thành trong sáng, đó là thứ nhất. Ông Ô Xô Sắt Ma, ở trước Đức Như Lai, chấp tay đỉnh lễ nơi hai chân Phật mà bạch Phật rằng: Tôi thường nhớ trước kia, trong kiếp xa xôi, tánh có nhiều tham dục; lúc ấy, có Đức Phật ra đời hiệu là Không Vương, bảo người đa dâm như đống lửa hồng và dạy tôi quán khắp những hơi nóng lạnh nơi trăm vóc tứ chi; tôi nhờ quán như vậy, mà được giác tánh sáng suốt lặng đứng bên trong, hoá tâm đa dâm thành lửa trí huệ. Từ ấy, các Đức Phật đều gọi tên tôi là Hỏa Đầu. Tôi dùng sức Hỏa quang Tam ma địa mà thành quả A la hán; trong tâm phát đại nguyện, khi các Đức Phật thành đạo, thì làm lực sĩ, thân ở bên Phật, uốn dẹp bọn tà ma quấy phá. Phật hỏi về viên thông, tôi dùng pháp quán các hơi ấm nơi thân tâm đều lưu thông không ngăn ngại; các lậu đã tiêu, sanh ra ngọn lửa đại trí quý báu, lên bậc vô thượng giác, đó là thứ nhất. Ngài Trì Địa Bồ tát liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đỉnh lễ nơi chân Phật mà bạch Phật rằng: Tôi nhớ kiếp xưa, khi Đức Phật Phổ Quang ra đời, tôi làm Tỳ kheo, thường ở nơi các nẻo đường bến đò, đất đai hiểm trở eo hẹp, không đúng nguyên tắc, có thể làm tổn hại đến xe ngựa, thì tôi đều đắp bằng, hoặc làm cầu cống, hoặc gánh đất cát; siêng năng khó nhọc như vậy trong suốt thời gian vô lượng Phật ra đời. Hoặc có chúng sanh, ở nơi chợ búa, cần người mang đồ vật, trước tiên tôi mang hộ đến nơi, đến chốn, để đồ vật xuống, liền đi ngay, không lấy tiền thuê. Khi Đức Phật Tỳ Xá Phù ra đời, thế gian phần nhiều đói kém; tôi cõng giúp người, không kể gần xa, chỉ lấy một đồng tiền; hoặc có xe trâu sa xuống bùn lầy, tôi dùng sức mạnh đẩy bánh xe lên cho khỏi khổ não. Ông vua trong nước thuở đó thết trai mời Phật; lúc ấy, tôi liền sửa sang đường đất bằng phẳng, đợi Phật đi qua. Đức Tỳ Xá Như Lai xoa đỉnh đầu tôi mà bảo rằng: Nên bình cái tâm địa, thì tất cả đất đai trên thế giới đều bình. Tôi liền khai ngộ, thấy vi trần nơi thân thể cùng với tất cả vi trần tạo thành thế giới đều bình đẳng không sai khác, tự tánh của vi trần không chạm xát nhau, cho đến các thứ đao binh cũng không đụng chạm gì; tôi do nơi pháp tánh ngộ được Vô sanh nhẫn, thành quả A la hán, xoay tâm về Đại thừa, nên hiện nay, ở trong hàng Bồ tát; khi nghe các Đức Như Lai dạy về chỗ tri kiến của Phật như Diệu Liên Hoa, thì tôi chứng tỏ đầu tiên, làm vị thượng thủ. Phật hỏi về viên thông, do tôi quán kỹ hai thứ trần nơi căn thân và khí giới đều bình đẳng không sai khác, vốn là Như Lai tạng giả dối phát ra trần tướng; trần tướng đã tiêu diệt, thì trí huệ được viên mãn, thành đạo vô thượng, đó là thứ nhất. Ngài Nguyệt Quang đồng tử liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đỉnh lễ nơi chân Phật mà bạch Phật rằng: Tôi nhớ hằng sa kiếp về trước, có Đức Phật ra đời, hiệu là Thủy Thiên, dạy hàng Bồ tát tu tập phép quán thủy để vào Tam ma địa; nghĩa là quán ở trong thân, tánh nước không gì ngăn ngại, quán từ nước mũi, nước bọt cho đến tất cả các thứ tân, dịch tinh, huyết, đại tiện, tiểu tiện; xoay vần trong thân đều đồng một tánh nước, quán thấy nước trong thân cùng nước các bể hương thủy của Phù tràng vương sát ở ngoài thế giới, đều bình đẳng không sai khác. Tôi trong lúc ấy, mới thành tựu phép quán nầy, chỉ thấy được nước, chưa được không có thân; lúc đang làm Tỳ kheo, tọa thiền trong phòng, tôi có người đệ tử dòm cửa sổ trông vào phòng chỉ thấy nước trong, đầy khắp trong phòng, chứ không có gì; nó nhỏ dại không biết, liền lấy một miếng ngói ném vào trong nước, đập vào nước phát ra tiếng, ngó quanh rồi bỏ đi; về sau, tôi xuất định, liền thấy đau tim như ông Xá Lợi Phất bị con quỷ Vi hại đập. Tôi tự suy nghĩ: Nay tôi đã được đạo A la hán, đã lâu không còn nhân duyên mắc bệnh được nữa, làm sao ngày nay lại sanh ra đau tim, không lẽ đã bị thoái thất rồi chăng? Khi bấy giờ, đệ tử của tôi đi đến, kể lại cho tôi những việc như trước, tôi mới bảo nó, sau nầy, nếu lại thấy nước, thì nên mở cửa, vào lấy viên ngói trong nước ấy đi. Đệ tử vâng lời tôi bảo; về sau, khi tôi nhập định, nó lại thấy nước với viên ngói rõ ràng, nó liền mở cửa, lấy viên ngói ra. Sau đó, tôi xuất định, thì thân thể lại được như cũ. Tôi đã gặp được vô lượng Phật, đến Đức Sơn Hải Tự Tại Thông Vương Như Lai, thì tôi mới được không còn thân riêng và cùng với nước bể hương thủy thập phương thế giới, đồng một tánh chân không, không hai không khác; hiện nay, ở nơi Đức Như Lai, được danh hiệu là Đồng Chân, dự hội Bồ tát. Phật hỏi về viên thông, tôi do quán tánh nước một mực lưu thông, được phép vô sanh nhẫn, viên mãn đạo Bồ đề, đó là thứ nhất. Ngài Lưu Ly Quang Pháp vương tử liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đỉnh lễ nơi chân Phật mà bạch Phật rằng: Tôi nhớ hằng sa kiếp về trước, có Đức Phật ra đời, hiệu là Vô Lượng Thanh; ngài khai thị tánh bản giác diệu minh cho các hàng Bồ tát và dạy quán thế giới và thân chúng sanh nầy đều do sức lay động của vọng duyên chuyển biến ra. Tôi lúc bấy giờ, quán cái không gian an lập, quán cái thời gian thiên lưu, quán cái thân thể khi động, khi yên, quán cái thức tâm niệm niệm sanh diệt, tất cả đều lay động như nhau, bình đẳng không sai khác. Khi bấy giờ, tôi Giác ngộ cái tánh các thứ động ấy, đến không do đâu, đi không tới đâu; tất cả chúng sanh điên đảo, số như vi trần trong mười phương đều đồng một hư vọng; như vậy, cho đến tất cả chúng sanh trong một Tam thiên Đại thiên thế giới, cũng như hàng trăm loài muỗi mạt đựng trong một đồ đựng, vo vo kêu ầm, ở trong gang tấc, ồn ào rối rít. Tôi gặp Phật chưa bao lâu, thì được pháp Vô sanh nhẫn; khi bấy giờ, tâm đã khai ngộ, mới thấy cõi Phật Bất Động phương Đông, làm vị Pháp vương tử. Tôi thừa sự thập phương Phật, thân tâm phát ra sáng suốt, rỗng thấu không ngăn ngại. Phật hỏi về viên thông, tôi do quan sát sức lay động không nương vào đâu, ngộ được tâm Bồ đề, vào được Tam ma địa, hợp với nhất diệu tâm mà thập phương Phật truyền dạy, đó là thứ nhất. Ngài Hư Không Tạng Bồ tát liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đỉnh lễ nơi chân Phật mà bạch Phật rằng: Tôi cùng Đức Như Lai chứng được thân vô biên nơi Đức Phật Định Quang; lúc ấy, tay tôi cầm bốn hạt châu báu lớn, soi tỏ cõi Phật thập phương số như vi trần, đều hóa thành hư không; lại ở nơi tự tâm hiện ra trí đại viên kính, trong ấy phóng ra mười thứ hào quang, vi diệu quý báu, soi khắp các Phù tràng vương sát cùng tột hư không mười phương, đều vào trong viên kính ấy, nhập với thân tôi và thân tôi đồng như hư không, không có ngăn ngại lẫn nhau, thân tôi lại khéo vào vi trần quốc độ, rộng làm việc Phật, được đại tuỳ thuận. Thần lực lớn đó là do tôi quán kỹ tứ đại không nương vào đâu, do vọng tưởng mà có sanh diệt, hư không không có hai và cõi Phật vốn là đồng, do phát minh được tánh đồng mà chứng vô sanh nhẫn. Phật hỏi về viên thông, tôi quán hư không không bờ bến; vào Tam ma địa, diệu lực viên mãn sáng suốt, đó là thứ nhất. Ngài Di Lặc Bồ tát liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đỉnh lễ nơi chân Phật mà bạch Phật rằng: Tôi nhớ vi trần kiếp về trước, có Đức Phật ra đời tên là Nhật Nguyệt Đăng Minh; tôi được xuất gia theo Đức Phật kia, nhưng tâm còn trọng hư danh thế gian, ưa giao du với các vọng tộc. Lúc ấy Đức Thế Tôn dạy tôi tu tập định duy tâm thức, tôi được vào Tam ma địa; trải qua nhiều kiếp đến nay, dùng pháp Tam ma địa ấy phụng sự hằng sa Phật, tâm cầu hư danh thế gian diệt hết không còn. Đến khi Đức Phật Nhiên Đăng ra đời, tôi mới được thành tựu Vô thượng Diệu viên thức tâm Tam ma địa. Tất cả cõi nước Như Lai tột bờ bến hư không, cho đến những điều tịnh, uế, có, không, đều do tâm tôi biến hóa hiện ra. Bạch Thế Tôn, do tôi rõ được tánh duy tâm thức như vậy, nên nơi thức tánh, xuất hiện vô lượng Như Lai và hiện nay, tôi được thọ ký, liền sau đây, bổ xứ thành Phật nơi cõi này. Phật hỏi về viên thông, tôi dùng phép quán mười phương đều duy thức, thức tâm được tròn sáng, chứng nhập tánh viên thành thật, xa rời tánh y tha khởi và tánh biến kế chấp, được pháp vô sanh nhẫn, đó là thứ nhất. Ngài Đại Thế Chí Pháp vương tử cùng với năm mươi hai vị Bồ tát đồng tu một Pháp môn, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đỉnh lễ nơi chân Phật mà bạch Phật rằng: Tôi nhớ hằng sa kiếp trước, có Đức Phật ra đời, tên là Vô Lượng Quang; lúc ấy mười hai Đức Như Lai kế nhau thành Phật trong một kiếp Đức Phật sau hết, hiệu là Siêu Nhật Nguyệt Quang, dạy cho tôi phép Niệm Phật Tam ma địa. Ví như có người, một đằng chuyên nhớ, một đằng chuyên quên, thì hai người ấy, dầu gặp cũng không là gặp, dầu thấy cũng là không thấy; nếu cả hai người đều nhớ nhau, hai bên nhớ mãi, khắc sâu vào tâm niệm, thì đồng như hình với bóng, cho đến từ đời nầy sang đời khác, không bao giờ cách xa nhau. thập phương Như Lai thương tưởng chúng sanh như mẹ nhớ con, nếu con trốn tránh, thì tuy nhớ, nào có ích gì; nếu con nhớ mẹ như mẹ nhớ con, thì đời đời mẹ con không cách xa nhau. Nếu tâm chúng sanh nhớ Phật, tưởng Phật, thì hiện nay hay về sau, nhất định thấy Phật; cách Phật không xa thì không cần phương tiện, tâm tự được khai ngộ như người ướp hương thì thân thể có mùi thơm, ấy gọi là hương quang trang nghiêm. Bản nhân của tôi là dùng tâm niệm Phật mà vào pháp Vô sanh nhẫn, nay ở cõi nầy tiếp dẫn những người niệm Phật về cõi Tịnh Độ. Phật hỏi về viên thông, tôi thu nhiếp tất cả Lục căn, không có lựa chọn, tịnh niệm kế tiếp, được vào Tam ma địa, đó là thứ nhất NAM MÔ LĂNG NGHIÊM HỘI THƯỢNG PHẬT BỒ TÁT MA HA TÁT Quyển 6: Khi bấy giờ, ngài Quán Thế Âm Bồ tát liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đỉnh lễ nơi chân Phật mà bạch Phật rằng: Thưa Thế Tôn, tôi nhớ vô số hằng sa kiếp về trước, có Đức Phật ra đời, hiệu là Quán Thế Âm; từ Đức Phật kia, tôi phát tâm Bồ đề. Đức Phật kia dạy tôi, do nghe, nghĩ và tu, mà vào Tam ma địa. Ban đầu, ở trong tánh nghe, vào được dòng viên thông, không còn tướng sở văn nữa. Trần tướng đã vẳng lặng, hai tướng động, tĩnh rõ thật không sanh. Như vậy thêm lần, các tướng năng văn, sở văn đều hết. Không dừng lại nơi chỗ dứt hết năng văn, sở văn mà tiến lên nữa, thì năng giác, sở giác, đều không. Không giác tột bậc viên mãn, các tướng năng không, sở không đều diệt. Sanh diệt đã diệt, thì bản tánh tịch diệt hiện tiền. Bỗng nhiên, vượt ngoài thế gian và xuất thế gian, sáng suốt cùng khắp mười phương, được hai cái thù thắng: Một là, trên hợp với bản giác diệu tâm thập phương chư Phật, cùng với chư Phật Như Lai đồng một từ lực. Hai là, dưới hợp với tất cả chúng sanh lục đạo mười phương, cùng với các chúng sanh đồng một bi ngưỡng. Bạch Thế Tôn, do tôi cúng dường đức Quán âm Như Lai, nhờ Ngài truyền thụ cho tôi Như huyễn Văn huân Văn tu Kim cang Tam ma địa, được cùng chư Phật đồng một từ lực, nên làm cho thân tôi thành tựu 32 Ứng thân vào các cõi nước. Bạch Thế Tôn, nếu các vị Bồ tát vào Tam ma địa, tiến tu pháp vô lậu, thắng giải hiện đã viên mãn, tôi hiện ra thân Phật, vì họ mà thuyết pháp, khiến cho được giải thoát. Nếu các hàng Hữu học tu phép Diệu minh vẳng lặng, chỗ thắng diệu đã viên mãn. Tôi ở trước người kia, hiện ra thân Độc giác, vì họ mà thuyết pháp, khiến cho được giải thoát. Nếu các hàng Hữu học đoạn Thập nhị nhân duyên; do các nhân duyên đã đoạn mà phát ra thắng tánh và thắng tánh đó hiện đã viên mãn, tôi ở trước người kia, hiện ra thân Duyên giác, vì họ mà thuyết pháp khiến cho được giải thoát. Nếu các hàng Hữu học được phép không của Tứ đế, tu đạo đế vào diệt đế, thắng tánh hiện viên mãn, tôi ở trước người kia, hiện ra thân Thanh văn, vì họ mà thuyết pháp, khiến cho được giải thoát. Nếu chúng sanh muốn tâm được tỏ ngộ, không phạm vào cảnh ngũ dục và muốn cho thân được thanh tịnh, tôi ở trước người kia, hiện ra thân Phạm vương, vì họ mà thuyết pháp, khiến cho được giải thoát. Nếu các chúng sanh muốn làm Thiên chúa, thống lĩnh chư thiên, tôi ở trước người kia, hiện ra thân Đế Thích, vì họ mà thuyết pháp, khiến cho được thành tựu. Nếu các chúng sanh muốn thân được tự tại, bay đi trên hư không, tôi ở trước người kia, hiện ra thân Đại Tự Tại thiên, vì họ mà thuyết pháp, khiến cho được thành tựu. Nếu các chúng sanh muốn thân được tự tại, đi khắp mười phương, tôi ở trước người kia, hiện ra thân Tự Tại thiên, vì họ mà thuyết pháp, khiến cho được thành tựu. Nếu các chúng sanh muốn thống lĩnh quỷ thần, cứu giúp cõi nước, tôi ở trước người kia, hiện ra thân Thiên đại tướng quân, vì họ mà thuyết pháp, khiến cho được thành tựu. Nếu có các chúng sanh muốn thống lãnh thế giới, bảo hộ chúng sanh, tôi liền ở trước họ, hiện thân trời Tứ vương mà vì họ nói pháp, khiến được thành tựu như ý. Nếu các chúng sanh muống sanh nơi Thiên cung, sai khiến quỷ thần, tôi ở trước người kia, hiện ra thân thái tử, con của Tứ Thiên vương, vì họ mà thuyết pháp, khiến cho được thành tựu. Nếu các chúng sanh muốn làm vua cõi người, tôi ở trước người kia, hiện ra thân vua, vì họ mà thuyết pháp, khiến cho được thành tựu. Nếu các chúng sanh muốn làm chủ gia đình danh tiếng, thế gian kính nhường, tôi ở trước người kia, hiện ra thân trưởng giả vì họ mà thuyết pháp, khiến cho được thành tựu. Nếu các chúng sanh thích đàm luận những lời hay, giữ mình trong sạch, tôi ở trước người kia, hiện ra thân cư sĩ, vì họ mà thuyết pháp, khiến cho được thành tựu. Nếu các chúng sanh muốn trị cõi nước, chia đoán các bang, các ấp, tôi ở trước người kia, hiện ra thân tể quan, vì họ mà thuyết pháp, khiến cho được thành tựu. Nếu các chúng sanh thích các số thuật, tự mình nhiếp tâm giữ thân, tôi ở trước người kia, hiện ra thân Bà la môn, vì họ mà thuyết pháp, khiến cho được thành tựu. Nếu có người con trai muốn học phép xuất gia, giữ các giới luật, tôi ở trước người kia, hiện ra thân Tỳ kheo, vì họ mà thuyết pháp, khiến cho được thành tựu. Nếu có người con gái muốn học phép xuất gia, giữ các cấm giới, tôi ở trước người kia, hiện ra thân Tỳ kheo ni, vì họ mà thuyết pháp, khiến cho được thành tựu. Nếu có người con trai thích giữ ngũ giới, tôi ở trước người kia, hiện ra thân Ưu bà tắc, vì họ mà thuyết pháp, khiến cho được thành tựu. Nếu có người con gái tự giữ ngũ giới, tôi ở trước người kia, hiện ra thân Ưu bà di, vì họ mà thuyết pháp, khiến cho được thành tựu. Nếu có người con gái lập thân trong nội chính, để tu sửa nhà nước, tôi ở trước người kia, hiện ra thân nữ chúa hay thân quốc phu nhân, mệnh phụ, đại gia, vì họ mà thuyết pháp, khiến cho được thành tựu. Nếu có chúng sanh không phá nam căn, tôi ở trước người kia, hiện ra thân đồng nam, vì họ mà thuyết pháp, khiến cho được thành tựu. Nếu có người xử nữ, thích thân xử nữ, không cầu sự xâm bạo, tôi ở trước người kia, hiện ra thân đồng nữ, vì họ mà thuyết pháp, khiến cho được thành tựu. Nếu có chư thiên muốn ra khỏi loài trời, tôi hiện ra thân chư thiên, vì họ mà thuyết pháp, khiến cho được thành tựu. Nếu có các con rồng muốn ra khỏi loài rồng, tôi hiện ra thân rồng, vì họ mà thuyết pháp, khiến cho được thành tựu. Nếu có Dạ xoa muốn thoát khỏi loài mình, tôi ở trước họ, hiện ra thân Dạ xoa, vì họ mà thuyết pháp, khiến cho được thành tựu. Nếu có Càn thát bà muốn thoát khỏi loài mình, tôi ở trước họ, hiện ra thân Càn thát bà, vì họ mà thuyết pháp, khiến cho được thành tựu. Nếu có A tu la, muốn thoát khỏi loài mình, tôi ở trước họ, hiện ra thân A tu la, vì họ mà thuyết pháp, khiến cho được thành tựu. Nếu có Khẩn na la muốn thoát khỏi loài mình, tôi ở trước họ, hiện ra thân Khẩn na la, vì họ mà thuyết pháp, khiến cho được thành tựu. Nếu có Ma hầu la dà muốn thoát khỏi loài mình; tôi ở trước họ, hiện ra thân Ma hầu la dà, vì họ mà thuyết pháp, khiến cho được thành tựu. Nếu có chúng sanh thích làm người, tu cho được thân người, tôi hiện ra thân người, vì họ mà thuyết pháp, khiến cho được thành tựu. Nếu có loài phi nhân, hoặc có hình, hoặc không hình, hoặc có tưởng, hoặc không tưởng, muốn thoát khỏi loài mình, tôi ở trước họ, hiện ra thân như họ, vì họ mà thuyết pháp, khiến cho được thành tựu. Ấy gọi là 32 Ứng thân diệu tịnh, vào các cõi nước. Những thân ấy đều do vô tác diệu lực của Văn huân Văn tu Tam ma địa, mà tự tại thành tựu. Bạch Thế Tôn, do tôi lại dùng vô tác diệu lực của Văn huân Văn tu Kim cang Tam ma địa ấy, cùng với tất cả lục đạo chúng sanh trong mười phương ba đời, đồng một lòng bi ngưỡng, nên khiến các chúng sanh, nơi thân tâm tôi, được 14 thứ công đức vô úy: Là do tôi không tự quán cái tiếng, mà quán cái tâm năng quán, nên khiến cho chúng sanh khổ não thập phương kia, quán cái âm thanh, thì liền được giải thoát. Là tri kiến đã xoay trở lại, khiến cho các chúng sanh, dầu vào đống lửa, lửa không thể đốt được. Là quán cái nghe đã xoay trở lại, khiến cho các chúng sanh bị nước lớn cuốn đi, mà không chết đuối. Là diệt hết vọng tưởng, tâm không sát hại, khiến các chúng sanh vào những nước quỷ, quỷ không thể hại được. Là huân tập và thành tựu được tánh nghe, cả Lục căn đều tiêu về bản tánh, đồng như cái nghe, cái tiếng, có thể khiến cho chúng sanh, lúc đương bị hại, dao gãy từng đoạn, khiến cho các binh khí chạm vào thân người như cắt dòng nước, như thổi ánh sáng, bản tánh không hề lay động. Là huân tập tánh nghe sáng suốt thấu khắp Pháp giới, thì các tánh tối tăm không thể toàn được, có thể khiến cho chúng sanh, tuy các loài Dạ xoa, La sát, Cưu bàn trà, Tỳ xá già, Phú dan na,… ở gần một bên, con mắt chúng vẫn không thể thấy được. Là các tiếng đều viên tiêu, thấy nghe đã xoay vào tự tánh, rời các trần cảnh hư vọng, có thể khiến cho các chúng sanh, những thứ cùm, dây, gông, xiềng không thể dính vào mình được. Là diệt tướng âm thanh, viên thông tánh nghe, phát sanh từ lực cùng khắp, có thể khiến cho chúng sanh đi qua đường hiểm, giặc không cướp được. Là huân tập phát ra tánh nghe, rời các trần tướng, sắc dục không lôi kéo được, có thể khiến cho tất cả chúng sanh đa dâm, xa rời lòng tham dục. Là thuần một thật tướng của âm thanh, không còn gì là tiền trần, căn và cảnh điều viên dung, không có năng, sở đối đãi, có thể khiến cho tất cả chúng sanh nóng giận, rời bỏ lòng thù ghét. Là tiêu diệt trần tướng, xoay về tánh bản minh, thì Pháp giới, thân, tâm đều như ngọc lưu ly, sáng suốt không ngăn ngại, có thể khiến cho những kẻ ngu ngốc u mê, xa rời hẳn sự si mê tối tăm. Là viên dung các hình tướng, xoay tánh nghe trở về đạo tràng bất động, hòa vào thế gian mà không hủy hoại thế giới, cúng dường được chư Phật Như Lai như số vi trần, cùng khắp mười phương, ở bên mỗi mỗi Đức Phật, làm vị Pháp vương tử, có thể khiến cho trong Pháp giới, những chúng sanh không con, cầu có con trai, sanh ra đứa con trai có phúc đức trí huệ. Là Lục căn viên thông, soi sáng không hai, trùm khắp thập phương thế giới, thành lập đại viên kính Không Như Lai tạng, vâng lĩnh Pháp môn bí mật của thập phương vi trần Như Lai, không có thiếu sót, có thể khiến cho trong Pháp giới, những chúng sanh không con, cầu có con gái, sanh ra người con gái có tướng tốt, đoan chính, phúc đức, dịu dàng, được mọi người yêu kính. Là trong Tam thiên Đại thiên thế giới này, có trăm ức mặt trời, mặt trăng, các Pháp vương tử hiện ở trong thế gian, số lượng có đến 62 số cát sông Hằng, đều tu Phật pháp, nêu gương mẫu, giáo hóa chúng sanh, tùy thuận chúng sanh, phương tiện trí huệ của mỗi mỗi vị không đồng nhau. Do tôi được tánh viên thông, phát ra diệu tánh của Nhĩ căn, cho đến thân tâm nhiệm mầu bao trùm khắp Pháp giới, nên có thể khiến cho chúng sanh chấp trì danh hiệu của tôi, so với những người chấp trì danh hiệu của tất cả các vị Pháp vương tử số lượng bằng 62 số cát sông Hằng kia, phúc đức hai bên thật bằng bậc, không sai khác. Bạch Thế Tôn, một danh hiệu của tôi cùng với rất nhiều danh hiệu kia không khác, là do tôi tu tập được tánh viên thông chân thật. Ấy gọi là 14 sức thí vô úy, đem phúc khắp cho chúng sanh. Bạch Thế Tôn, do tôi đã được Đạo tu chứng viên thông vô thượng đó, nên lại khéo được 4 vô tác diệu đức không nghĩ bàn: Là do tôi chứng được tánh nghe chí diệu, nơi tâm tánh không còn có tướng năng văn, các sự thấy, nghe, hay, biết không còn cách biệt và đều thành một bảo giác viên dung thanh tịnh, nên tôi có thể hiện ra rất nhiều hình dung nhiệm mầu, nói ra vô số thần chú bí mật. Trong đó, hoặc hiện ra một đầu, 3 đầu, 5 đầu, 7 đầu, 9 đầu, 11 đầu, như thế cho đến 108 đầu, 1000 đầu, 10000 đầu, 84000 cái đầu, đầy đủ các tướng; hoặc hiện ra hai tay, 4 tay, 6 tay, 12 tay, 14, 16, 18, 20, 24, như thế cho đến 108 tay, 1000 tay, 10000 tay, 84000 cái tay bắt ấn; hoặc hiện ra hai mắt, 3 mắt, 4 mắt, 9 mắt, như thế cho đến 108 mắt, 1000 mắt, 10000 mắt, 84000 con mắt báu thanh tịnh; hoặc khi thì từ, hoặc khi thì oai, hoặc khi thì định, hoặc khi thì huệ, cứu giúp chúng sanh được rất tự tại. Là do cái nghe, cái nghĩ của tôi, thoát ra ngoài Lục trần như cái tiếng qua bức tường, không thể bị ngăn ngại, cho nên diệu dụng của tôi có thể hiện mỗi mỗi hình, tụng mỗi mỗi chú, hình đó, chú đó đều có thể đem sức vô úy mà bố thí cho các chúng sanh; vì thế, cõi nước thập phương như vi trần đều gọi tôi là vị Thí vô úy. Là tôi tu tập, phát ra căn tánh bản diệu viên thông thanh tịnh, nên đi qua thế giới nào, đều khiến cho chúng sanh xả thân, xả đồ trân bảo, cầu tôi thương xót. Là do tôi được tâm Phật, chứng đến chỗ rốt ráo, nên có thể đem các thứ quý báu cúng dường thập phương Như Lai, cả đến chúng sanh lục đạo trong Pháp giới, ai cầu vợ thì được vợ, cầu con thì được con, cầu Tam ma địa thì được Tam ma địa, cầu sống lâu thì được sống lâu, như thế, cho đến cầu Đại Niết bàn thì được Đại Niết bàn. Phật hỏi về viên thông, tôi do văn chiếu Tam ma địa nơi Nhĩ căn mà duyên tâm được tự tại; nhân tướng nhập lưu, được Tam ma địa, thành tựu quả Bồ đề, đó là thứ nhất. Bạch Thế Tôn, Đức Phật Như Lai kia, khen tôi khéo được Pháp môn viên thông, ở trong đại hội, thọ ký cho tôi cái hiệu là Quán Thế Âm; do tôi thấy nghe thấu suốt mười phương, nên danh tiếng Quan Âm cùng khắp thập phương thế giới. Khi bấy giờ, Đức Thế Tôn nơi sư tử tọa, năm vóc đồng phóng ra hào quang báu, rọi xa trên đỉnh thập phương Như Lai số như vi trần và trên đỉnh các vị Pháp vương tử, các vị Bồ tát. Các đức Như Lai kia, năm vóc cũng đồng phóng ra hào quang báu, từ các thế giới số như vi trần đến rọi trên đỉnh Phật và trên đỉnh các vị Đại Bồ tát và A la hán trong hội; rừng cây, ao hồ đều diễn ra pháp âm; hào quang giao xen cùng nhau như lưới tơ báu. Cả trong đại chúng được cái chưa từng có; tất cả đều được Kim cang Tam ma địa. Liền khi ấy, trời mưa hoa sen bách bảo màu xanh, màu vàng, màu đỏ, màu trắng xen lộn lẫn nhau, thập phương hư không hóa thành sắc thất bảo. Đất liền, núi sông của cõi Ta Bà nầy cùng một lúc không hiện ra, chỉ thấy vi trần quốc độ thập phương hợp thành một giới, tiếng hát ca ngợi tự nhiên nổi lên. Khi bấy giờ, đức Như Lai bảo ngài Văn Thù Sư Lợi Pháp vương tử rằng: Ông hãy xét trong 25 vị Vô học Đại Bồ tát và A la hán, mỗi mỗi đều trình bày phương tiện hành đạo lúc đầu, đều nói tu tập tánh viên thông chân thật; chỗ tu hành của các vị kia, thật không có hơn, kém, trước, sau gì khác nhau. Nay tôi muốn khiến cho ông A Nan khai ngộ, thì trong 25 phép tu, phép nào hợp với căn cơ của ông ấy; lại, sau khi tôi diệt độ rồi, chúng sanh trong cõi nầy vào thừa Bồ tát, cầu đạo vô thượng, thì do Pháp môn phương tiện gì, được dễ thành tựu hơn? Ngài Văn Thù Sư Lợi Pháp vương tử, vâng từ chỉ của Phật, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đỉnh lễ nơi chân Phật, dựa vào uy thần của Phật, nói bài kệ đáp lại: Bản tánh biển Giác khắp đứng lặng, Tánh khắp đứng lặng vốn nhiệm mầu, Bản minh chiếu ra hình như sở, Lập tướng sở, bỏ mất bản minh. Do mê vọng, mà có hư không, Nương hư không, lập thành thế giới; Tư tưởng chăm chú thành cõi nước, Hay biết mọi việc, là chúng sanh. Hư không sanh ra trong đại giác, Như một bọt nước sanh trong bể; Các nước hữu lậu, như vi trần Đều nương hư không, mà phát sanh; Bọt nước diệt, vốn không hư không, Huống nữa là, hình tướng ba cõi. Bản tánh xoay về, vốn không hai, Phương tiện tu chứng có nhiều cách, Cách nào cũng thông vào bản tánh, Nói thuận, nghịch, chỉ là phương tiện; Do hàng sơ tâm vào Tam ma địa, Bên mau, bên chậm không đồng nhau. Vọng tưởng kết lại thành Sắc trần, Hay biết không thể thông suốt được; Làm sao, chính chỗ không thông suốt, Tu hành, lại được tánh viên thông? Âm thanh xen lộn với lời nói, Chỉ nương theo ý vị danh từ; Nếu một, không trùm được tất cả, Thì làm sao, được tánh viên thông? Hương, chỉ lúc hợp, mới rõ biết, Lúc rời cách, thì vốn không có; Nếu sở giác, không được thường xuyên, Thì làm sao, được tánh viên thông? Vị, không phải bản nhiên tự có, Cần phải nếm, mới biết có vị; Nếu giác quan, không thường duy nhất, Thì làm sao, được tánh viên thông? Xúc, do các vật chạm mà biết, Không vật chạm, thì không thành xúc; Khi hợp, khi ly, không nhất định, Thì làm sao, được tánh viên thông? Pháp, cũng có tên là nội trần, Nương theo trần, tất phải có sở; Năng sở, không viên dung nhập một, Thì làm sao, được tánh viên thông? Cái thấy, tuy rỗng suốt rất xa, Nhưng thấy trước, mà không thấy sau; Bốn bề, còn thiếu mất một nửa, Thì làm sao, được tánh viên thông! Mũi, có thở ra và thở vào, Chặng giữa, hiện không có hơi thở, Nếu không viên dung sự cách bức, Thì làm sao, được tánh viên thông? Ngoài sở nhập, tánh nếm không thành, Nhân các vị, mới có hay biết; Không có vị, rốt ráo không có, Thì làm sao, được tánh viên thông? Thân biết xúc với cảnh sở xúc, Đều có hạn, không phải cùng khắp; Nếu không nhận tánh không bờ bến, Thì làm sao, được tánh viên thông? Ý căn xen với các loạn tưởng, Đứng lặng, rốt cuộc không thấy gì; Nếu không thoát được các tưởng niệm, Thì làm sao, được tánh viên thông? Nhãn thức, phát khởi nhờ căn trần, Gạn cùng, vốn không có tự tướng; Cả tự thể, còn không nhất định, Thì làm sao, được tánh viên thông? Tâm nghe rỗng thấu cả mười phương, Là do sức hoằng thệ rộng lớn; Sơ tâm, không thể đến chỗ ấy Thì làm sao, được tánh viên thông? Quán đầu mũi, vốn là duyên cơ, Chỉ để nhiếp tâm được an trụ; Nếu cảnh quán, lại thành sở trụ, Thì làm sao, được tánh viên thông? Thuyết pháp, diệu dụng các danh từ; Cốt phải đã được khai ngộ trước; Nếu lời nói, không phải vô lậu, Thì làm sao, được tánh viên thông? Giữ giới, chỉ câu thúc cái thân, Ngoài cái thân, lấy gì câu thúc; Vốn không phải cùng khắp tất cả, Thì làm sao, được tánh viên thông? Thần thông, do túc tập từ trước, Nào dính gì Ý thức phân biệt; Tưởng niệm, không thoát ly sự vật, Thì làm sao, được tánh viên thông? Nếu quán cái tánh của địa đại, Thì nó ngăn ngại, không thông suốt; Pháp hữu vi, không phải chân tánh, Thì làm sao, được tánh viên thông? Nếu quán cái tánh của thủy đại, Quán tưởng, đâu phải là chân thật, Nếu không đi đến Diệu chân như, Thì làm sao, được tánh viên thông? Nếu quán hỏa đại, trừ dâm dục, Chán cái có, không phải thật ly; Phương tiện, không hợp với sơ tâm, Thì làm sao, được tánh viên thông? Nếu quán cái tánh của phong đại, Động, tĩnh, đâu phải không đối đãi; Đối đãi, trái với vô thượng giác, Thì làm sao, được tánh viên thông? Nếu quán cái tánh của không đại, Hư không vô tri, không hay biết; Không biết, khác hẳn với Bồ đề, Thì làm sao, được tánh viên thông? Nếu quán cái tánh của thức đại, Thức sanh diệt, đâu phải thường trụ, Để tâm trong phân biệt hư vọng, Thì làm sao, được tánh viên thông? Tất cả các hành đều vô thường, Tưởng niệm, vốn trong vòng sanh diệt, Nhân và quả, khác nhau như thế, Thì làm sao, được tánh viên thông? Tôi nay xin bạch Đức Thế Tôn, Phật ra đời trong cõi Ta Bà, Trong cõi nầy, lối dạy chân thật, Thanh tịnh, do chỗ nói và nghe; Nay muốn tu chứng Tam ma địa, Thật nên do cái nghe mà vào. Rời cái khổ và được giải thoát, Hay thay cho ngài Quán Thế Âm; Trong kiếp số như cát sông Hằng, Vào cõi Phật như số vi trần, Được sức tự tại rất to lớn, Bố thí vô úy cho chúng sanh. Ngài Quán Thế Âm, tiếng nhiệm mầu, Tiếng trong sạch và tiếng hải trào, Cứu đời, mọi việc được yên lành, Xuất thế gian, được quả thường trụ. Tôi nay kính bạch đức Như Lai, Như lời ngài Quan Âm vừa nói: Ví như, có người trong yên lặng, Chung quanh mười phương đều đánh trống, Thì đồng thời nghe khắp mười nơi, Như thế, mới là viên chân thật. Mắt bị ngăn che, không thấy được, Thiệt căn, Tỷ căn cũng như vậy, Thân căn, lúc hợp mới biết xúc, Ý căn, phân vân không manh mối; Cách tường, Nhĩ căn vẫn nghe tiếng, Dầu xa, dầu gần, đều nghe được; Năm căn so sánh thật không bằng, Như thế, mới là thông chân thật. Tánh Thanh trần, có động, có tĩnh, Trong tánh nghe thành có, thành không; Khi không tiếng, gọi là không nghe, Đâu phải thật không còn tánh nghe; Không tiếng, tánh nghe đã không diệt, Có tiếng, tánh nghe đâu phải sanh; Trọn rời cả hai thứ sanh diệt, Như thế, mới là thường chân thật. Dầu cho, trong lúc đương ngủ mê, Không vì không nghĩ, mà không nghe; Tánh nghe ra ngoài sự suy nghĩ, Thân, ý không thể so bằng được. Hiện nay, trong cõi Ta Bà nầy, Các thứ thanh luận được truyền bá, Do chúng sanh bỏ mất tánh nghe, Theo Thanh trần, nên bị lưu chuyển; A Nan, tuy có tánh nhớ dai, Vẫn không khỏi mắc các tà niệm; Há không phải tùy chỗ chìm đắm, Xoay ngược dòng, thoát khỏi hư vọng. A Nan, ông hãy nghe cho chín, Nay tôi nương uy lực của Phật, Tuyên nói phép Tam ma địa chân thật, Chắc như Kim cang vương, như huyễn, Không nghĩ bàn, xuất sanh chư Phật. Ông nghe tất cả pháp bí mật Của chư Phật, số như vi trần, Nếu trước hết, không trừ dục lậu, Nghe nhiều, chứa chấp thành lầm lỗi; Dùng cái nghe thụ trì Phật pháp, Sao lại không tự nghe cái nghe? Tánh nghe không phải tự nhiên sanh, Nhân Thanh trần mà có danh hiệu, Xoay cái nghe, thoát ly Thanh trần, Cái thoát ly ấy, gọi là gì? Một căn, đã trở về bản tánh, Thì cả Lục căn, được giải thoát, Thấy, nghe như bệnh lòa huyễn hóa, Ba cõi như hoa đốm hư không; Xoay tánh nghe, gốc lòa tiêu trừ, Trần tướng tiêu, giác tánh viên tịnh. Tột thanh tịnh, trí quang thông suốt, Thể tịch chiếu trùm khắp hư không, Trở lại xem các việc thế gian Thật giống như chiêm bao không khác. Nàng Ma Đăng Già là chiêm bao Thì còn ai bắt ông được nữa? Như các huyễn sư khéo trong đời, Làm trò, thành ra các trai, gái; Tuy thấy các căn đều cử động, Cốt yếu, do cái máy dật dây; Nghỉ máy, tất cả đều yên lặng, Các trò, trở thành không có tánh. Cả Lục căn cũng giống như thế, Vốn đều nương một tánh tinh minh Chia ra thành sáu thứ hòa hợp; Một nơi, đã rời bỏ quay về, Thì cả sáu, đều không thành lập; Trong một niệm, trần cấu đều tiêu, Chuyển thành tánh Viên minh tịnh diệu, Còn sót trần cấu là học vị, Sáng suốt cùng tột, tức Như Lai. Hỡi đại chúng và ông A Nan, Hãy xoay lại cái nghe điên đảo, Xoay cái nghe về, nghe tự tánh, Nhận tự tánh, thành đạo vô thượng; Thật tánh viên thông là như thế. Đây thật là một đường thẳng tiến Vào Niết bàn của vi trần Phật; Các đức Như Lai trong quá khứ Đều đã thành tựu Pháp môn nầy; Các vị Bồ tát trong hiện tại Điều viên minh vào Pháp môn ấy; Những người tu học đời vị lai Đều nên nương theo Pháp môn đó; Tôi cũng do pháp ấy mà chứng, Không phải chỉ ngài Quán Thế Âm. Thật như lời Đức Phật Thế Tôn Đã hỏi tôi về các phương tiện Để cứu giúp, trong đời mạt pháp, Những người cầu pháp xuất thế gian Thành tựu được tâm tánh Niết bàn Thì ngài Quan Âm là hơn cả. Còn tất cả các phương tiện khác Đều là nhờ uy thần của Phật, Tức nơi sự, rời bỏ trần lao, Không phải phép tu học thường xuyên, Nông hay sâu cũng đồng nghe được. Xin đỉnh lễ tánh Như Lai tạng, Vô lậu, không còn sự nghĩ bàn, Nguyện gia bị cho đời vị lai, Nơi Pháp môn nầy, không lầm lẫn. Đây là phương tiện dễ thành tựu, Nên đem dạy cho ông A Nan Cùng những kẻ trầm luân mạt kiếp, Chỉ dùng Nhĩ căn mà tu tập, Thì viên thông chóng hơn pháp khác; Tâm tánh chân thật là như thế. Lúc ấy, ông A Nan cùng cả đại chúng, thân tâm tỏ rõ, nhận được sự khai thị to lớn, xem quả Bồ đề và Đại Niết bàn của Phật, cũng như có người nhân có việc phải đi xa, chưa trở về được, song đã biết rõ con đường về nhà. Trong Pháp hội, cả đại chúng, Thiên Long Bát Bộ, hàng Nhị thừa Hữu học và tất cả các Bồ tát mới phát tâm, số lượng bằng mười số cát sông Hằng, đều được bản tâm xa trần tướng, rời cấu nhiễm, được pháp nhãn thanh tịnh. Bà Tánh Tỳ kheo ni nghe nói bài kệ xong, thành quả A la hán; vô lượng chúng sanh đều phát tâm Vô đẳng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Ông A Nan sửa áo chỉnh tề, ở trong đại chúng, chấp tay đỉnh lễ; tâm tích trọn sáng, vừa mừng vừa tủi; vì muốn lợi ích cho các chúng sanh vị lai, cúi đầu bạch Phật: Thưa Đức Thế Tôn đại bi, tôi nay đã ngộ được Pháp môn thành Phật, tu hành trong đó, được không nghi hoặc. Tôi thường nghe đức Như Lai dạy như thế nầy: Tự mình chưa được độ, trước đã độ người, đó là chỗ phát tâm của các vị Bồ tát; tự mình Giác ngộ viên mãn, có thể Giác ngộ kẻ khác, đó là sự ứng thế của các đức Như Lai. Tôi tuy chưa được độ, song nguyện độ tất cả chúng sanh trong đời mạt pháp. Bạch Thế Tôn, các chúng sanh đó cách Phật ngày càng xa, những tà sư thuyết pháp; số như cát sông Hằng; nếu muốn họ nhiếp tâm vào Tam ma địa, thì nên khiến họ dựng lập đạo tràng thế nào để rời các ma sự, được không thoái khuất nơi tâm Bồ đề. Khi bấy giờ, Đức Thế Tôn, ở trong đại chúng, khen ngợi ông A Nan: Hay lắm, hay lắm, như chỗ ông hỏi về dựng lập đạo tràng, cứu giúp chúng sanh chìm đắm trong đời mạt pháp, ông hãy nghe cho chín, tôi sẽ vì ông mà nói. Ông A Nan và cả đại chúng kính vâng lời dạy của Phật. Phật bảo ông A Nan: Ông thường nghe tôi, trong Tỳ Nại Gia, tuyên nói ba nghĩa quyết định của sự tu hành, đó là thu nhiếp cái tâm là giới, nhân giới mà sanh định, nhân định mà phát huệ, thế gọi là 3 pháp Vô lậu học. A Nan, thế nào thu nhiếp cái tâm thì gọi là giới? Nếu chúng sanh lục đạo các thế giới, cái tâm không dâm, thì không đi theo dòng sanh tử tiếp tục. Ông tu phép Tam ma địa cốt để ra khỏi trần lao, nếu không trừ lòng dâm, thì không thể ra khỏi trần lao được. Dầu có nhiều trí thiền định hiện tiền, nếu không đoạn lòng dâm, cũng chắc lạc vào ma đạo, hạng trên thành Ma vương, hạng giữa thành ma dân, hạng dưới thành ma nữ; các bọn ma kia cũng có đồ chúng, mỗi mỗi tự xưng là thành đạo vô thượng. Sau khi tôi diệt độ rồi, trong đời mạt pháp, có nhiều bọn ma nầy sôi nổi trong thế gian, gây nhiều việc tham dâm, lại giả làm người thiện tri thức, khiến cho các chúng sanh sa vào hầm ái kiến; bỏ mất con đường Bồ đề. Ông dạy người đời tu pháp Tam ma địa, trước hết phải đoạn cái dâm trong tự tâm. Ấy gọi là lời dạy bảo rõ ràng thanh tịnh, quyết định thứ nhất của các Đức Như Lai Tiên Phật Thế Tôn. Vậy nên ông A Nan, nếu không đoạn lòng dâm mà tu thiền định, thì cũng như nấu cát, nấu đá muốn cho thành cơm, dầu trải qua trăm nghìn kiếp cũng chỉ gọi là cát nóng, đá nóng, vì cớ sao? Vì đó là giống cát, giống đá, không phải là bản nhân của cơm vậy. Ông đem thân dâm cầu diệu quả của Phật, dầu được diệu ngộ, cũng chỉ là gốc dâm, cỗi gốc đã thành dâm, thì phải trôi lăn trong tam đồ, chắc không ra khỏi, còn đường nào tu chứng Niết bàn Như Lai. Chắc phải khiến cho thân tâm đều đoạn hết giống dâm, cho đến tánh đoạn cũng không còn nữa, thì mới trông mong chứng quả Bồ đề của Phật. Như lời tôi nói đây, gọi là lời nói của Phật; không như lời nói đó, tức là lời nói của ma Ba Tuần. A Nan, lại các chúng sanh lục đạo trong các thế giới, nếu cái tâm không sát, thì không theo dòng sanh tử tiếp tục. Ông tu phép Tam ma địa, cốt ra khỏi trần lao, nếu không trừ lòng sát, thì không thể ra khỏi trần lao được. Dầu có nhiều trí thiền định hiện tiền, nếu không đoạn lòng sát, thì chắc phải lạc vào thần đạo; người bậc trên thì thành đại lực quỷ, người bậc giữa thì thành phi hành Dạ xoa và các loài quỷ soái, người bậc dưới thì thành địa hành La sát, các loài quỷ thần kia cũng có đồ chúng, mỗi mỗi tự xưng là thành đạo vô thượng. Sau khi tôi diệt độ rồi, trong đời mạt pháp, có nhiều quỷ thần nầy sôi nổi trong thế gian, tự nói rằng ăn thịt, được đạo Bồ đề. A Nan, tôi khiến hàng Tỳ kheo ăn năm thứ tịnh nhục, thịt kia đều do thần lực tôi hóa sanh ra, vốn không có mạng căn. Xứ Bà la môn các ông, đất đai phần nhiều nóng ướt, lại thêm cát đá, rau cỏ không sanh được; tôi dùng sức đại bi gia bị, nhân sức đại từ bi, giả gọi là thịt và các ông cũng nhận được cái vị như thịt; làm sao, sau khi Như Lai diệt độ, người ăn thịt chúng sanh, lại gọi là Phật tử! Các ông nên biết những người ăn thịt đó, dầu cho tâm được khai ngộ, giống như Tam ma địa, đều là loài La sát, quả báo hết rồi, phải chìm đắm trong bể khổ, không phải đệ tử Phật. Những người như vậy, giết nhau, nuốt nhau, ăn nhau chưa thôi, làm sao, lại được ra khỏi ba cõi. Ông dạy người đời tu phép Tam ma địa, thứ nữa, phải đoạn lòng sát. Ấy gọi là lời dạy rõ ràng thanh tịnh, quyết định thứ hai của các đức Như Lai Tiên Phật Thế Tôn. Vậy nên A Nan, nếu không đoạn lòng sát mà tu thiền định, thì cũng ví như có người tự bịt lỗ tai, cất tiếng kêu to mà trông mong người khác không nghe; bọn này gọi là muốn giấu thì càng lộ. Hàng Tỳ kheo thanh tịnh và các vị Bồ tát đi trong đường rẽ, không dẫm cỏ non, huống nữa là lấy tay nhổ cỏ; làm sao đức đại bi, lại lấy máu thịt của các chúng sanh, mà làm đồ ăn? Nếu các hàng Tỳ kheo không mặc những đồ tơ lụa, là lượt phương Đông và không dùng những giày dép, áo cừu, áo len hay các thứ sữa, phó mát, đề hồ, thì những Tỳ kheo như thế, đối với thế gian, thật là giải thoát, trả hết nợ cũ xong, thì không vào trong ba cõi nữa, vì cớ sao? Dùng những bộ phận thân thể chúng sanh, thì đều bị ảnh hưởng chúng sanh, cũng như con người ăn giống bách cốc trong đất, thì chân không rời khỏi đất. Quyết phải khiến cho thân tâm, đối với thân thể hay bộ phận thân thể của chúng sanh, đều không mặc, không ăn, thì những người như thế, tôi mới gọi thật là giải thoát. Như lời tôi nói đây, gọi là lời nói của Phật; không như lời nói đó, tức là lời nói của ma Ba Tuần. A Nan, lại như chúng sanh lục đạo trong thế giới, tâm không thâu đạo, thì không theo dòng sanh tử tiếp tục. Ông tu phép Tam ma địa, cốt ra khỏi trần lao, nếu lòng thâu đạo không trừ, thì không thể ra khỏi trần lao được; dầu có nhiều trí thiền định hiện tiền, nếu không đoạn được lòng thâu đạo, thì chắc phải lạc vào tà đạo, hạng trên thì thành tinh linh, hạng giữa thì thành yêu mị, hạng dưới thì thành người tà đạo bị các loài quỷ mị nhập vào; các bọn tà đạo kia cũng có đồ chúng, mỗi mỗi tự xưng là thành đạo vô thượng. Sau khi tôi diệt độ rồi, trong đời mạt pháp, có nhiều những hạng yêu mị tà đạo ấy sôi nổi trong thế gian, chúng lén núp gian dối, tự xưng là thiện tri thức, mỗi người tự xưng đã được đạo pháp thượng nhân, lừa gạt kẻ không biết, doạ dẫm khiến cho mất lòng chính tín; chúng đi qua đến đâu, cửa nhà người ta đều bị hao tổn tan nát. Tôi dạy hàng Tỳ kheo theo thứ lớp khất thực để bỏ lòng tham, thành đạo Bồ đề. Các hàng Tỳ kheo không tự nấu ăn, gửi cái sống thừa tạm bợ trong ba cõi, thị hiện chỉ đi về một phen, đi rồi không trở lại nữa. Làm sao, bọn giặc mượn y phục đạo Phật, buôn bán Như Lai, gây các thứ nghiệp mà đều gọi là Phật pháp, lại còn chê bai các vị Tỳ kheo đầy đủ giới luật xuất gia là đạo Tiểu thừa; do chúng làm cho vô lượng chúng sanh mắc phải nghi lầm, nên sẽ bị đọa vào ngục Vô Gián. Sau khi tôi diệt độ rồi, nếu có Tỳ kheo phát tâm quyết định tu phép Tam ma địa, biết ở trước hình tượng Như Lai, chính mình thắp một cây đèn, đốt một đốt ngón tay hay ở trên thân, đốt một mồi hương, tôi nói người ấy, túc trái vô thủy, trong một thời trả hết, cáo từ thế gian, thoát hẳn các lậu. Người ấy, tuy chưa hiểu rõ đạo vô thượng giác, nhưng đối với Phật pháp, tâm đã quyết định; nếu không làm được cái nhân nhỏ mọn xả thân ấy, thì dầu thành đạo vô vi, cùng phải lại sanh làm người, trả các nợ củ, như quả báo mã mạch của tôi, thật không sai khác. Ông dạy người đời tu phép Tam ma địa, sau nữa, phải đoạn lòng thâu đạo. Ấy gọi là lời dạy rõ ràng thanh tịnh, quyết định thứ ba của các đức Như Lai Tiên Phật Thế Tôn. Vậy nên ông A Nan, nếu không đoạn lòng thâu đạo mà tu thiền định, thì cũng như người lấy nước rót vào chén thủng, mong cho đầy chén, dầu trải qua kiếp số như vi trần, rốt cuộc không thể đầy được. Nếu các hàng Tỳ kheo, ngoài y bát ra, mảy may không tích trữ, xin ăn có dư, thì bố thí cho chúng sanh đói, nơi nhóm hội lớn, chấp tay vái chào đại chúng, có người đánh mắng cũng đồng như khen ngợi, quyết định rời bỏ cả thân và tâm, thân thịt xương máu thành sở hữu chung của chúng sanh, không đem những lời dạy bất liễu nghĩa của Như Lai làm chỗ hiểu của mình, khiến cho kẻ sơ học phải lầm lạc, thì Phật ấn chứng người ấy, thật được Tam ma địa. Như lời tôi nói đây, gọi là lời nói của Phật; không như lời nói đó, tức là lời nói của ma Ba Tuần. A Nan, chúng sanh lục đạo trong thế giới như thế, tuy nơi thân tâm không còn sát, đạo, dâm, cả ba hạnh đã được viên mãn, nếu mắc phải đại vọng ngữ, thì Tam ma địa không được thanh tịnh, thành giống ma ái kiến và mất giống Như Lai; tức như chưa được gọi rằng được, chưa chứng gọi rằng chứng, hoặc để cầu thế gian tôn trọng tột bậc, bảo người khác rằng: Nay tôi đã được quả Tu đà hoàn, quả Tư đà hàm, quả A na hàm, đạo A la hán, thừa Bích chi Phật hay các quả vị Bồ tát trong Thập địa hay trước Thập địa, trông mong người kia lễ sám, tham sự cúng dường. Những tên nhất điên ca ấy, tự tiêu diệt giống Phật, như người lấy dao chặt cây đa la; Phật ấn ký người ấy, mất hẳn thiện căn, không còn chính tri kiến, chìm đắm trong ba bể khổ, không thành tựu pháp Tam ma địa. Tôi bảo các hàng Bồ tát và A la hán, sau khi tôi diệt độ rồi, hiện ra Ứng thân, sanh trong đời mạt pháp kia, hiện ra nhiều hình tướng khác nhau, đề độ những người còn trong vòng luân hồi, hoặc làm Sa môn, bạch y cư sĩ, vua chúa, quan lại, đồng nam, đồng nữ, như thế cho đến người dâm nữ, người quả phụ, người gian dối, trộm cắp, người hàng thịt, buôn bán, để khen ngợi Phật thừa với những người đồng sự, khiến cho thân tâm của họ vào được Tam ma địa; nhưng rốt ráo không tự bảo rằng tôi thật là Bồ tát, thật là A la hán, khinh xuất nói với những người chưa học, làm tiết lậu mật nhân của Phật, chỉ trừ đến lâm chung, hoặc chăng, thầm có những lời di chúc; làm sao, lại còn có lừa gạt chúng sanh, thành tội đại vọng ngữ. Ông dạy người đời tu phép Tam ma địa, sau rốt phải đoạn trừ các đại vọng ngữ. Ấy gọi là lời dạy rõ ràng thanh tịnh, quyết định thứ tư của các đức Như Lai Tiên Phật Thế Tôn. Vậy nên ông A Nan, nếu không đoạn trừ lòng đại vọng ngữ, thì cũng như khắc phân người làm thành hình cây chiên đàn, mà muốn được hương thơm, thật không có lẽ nào như vậy. Tôi dạy hàng Tỳ kheo lấy trực tâm làm đạo tràng, trong hết thảy hành động, nơi bốn uy nghi, còn không có giả dối, làm sao, lại có kẻ tự xưng đã được đạo pháp thượng nhân! Ví như người dân cùng xưng càn là đế vương để tự chuốc lấy sự tru diệt, huống nữa, là vị pháp vương, làm sao, lại dám xưng càn! Nhân đã không thật, quả ắt quanh co, như thế, mà cầu đạo Bồ đề của Phật, thì cũng như người muốn cắn rốn, làm sao, mà thành tựu được. Nếu như các hàng Tỳ kheo, tâm như dây đàn thẳng, tất cả đều chân thật mà vào Tam ma địa, thì hẳn không có các ma sự, tôi ấn chứng người đó, thành tựu được vô thượng tri giác của các hàng Bồ tát. Như lời tôi nói đây, gọi là lời nói của Phật; không như lời nói đó, tức là lời nói của ma Ba Tuần. NAM MÔ LĂNG NGHIÊM HỘI THƯỢNG PHẬT BỒ TÁT MA HA TÁT Quyển 7: A Nan, ông hỏi cách nhiếp trì tâm niệm, thì tôi đã nói rằng: Người muốn vào Tam ma địa, tu học Pháp môn nhiệm mầu, cầu đạo Bồ tát; trước hết cần giữ 4 thứ luật nghi đó trong sáng như giá, như sương, tự không thể sanh ra được tất cả ngành lá; ba ý nghiệp, bốn khẩu nghiệp ác chắn không còn có nhân mà sanh được. A Nan, nếu giữ 4 việc như vậy không thiếu sót, thì tâm còn không duyên với sắc, hương, vị, xúc, tất cả ma sự làm sao mà phát sanh được. Nếu có tập khí cũ không thể diệt trừ, ông dạy người đó nhất tâm tụng thần chú Vô Thượng Phật Đỉnh Quang Minh Ma Ha Tát Đát Đa Bát Đát Ra của tôi, đó là cái tâm chú do Vô vi tâm Phật của Vô kiến đỉnh tướng Như Lai, từ nơi đỉnh hiện ra, ngồi trên hoa sen báu mà nói. Vả lại, ông cùng nàng Ma Đăng Già, do nhân duyên nhiều kiếp đời trước thành tập khí ân ái, không phải một đời hay là một kiếp; song, một phen tôi tuyên dương thần chú, thì Nàng Ma Đăng Già thoát hẳn khỏi lòng yêu, thành quả A la hán. Nàng kia, còn là dâm nữ, không có tâm tu hành, do sức thần chú giúp, cũng mau chứng quả Vô học; thế thì bọn ông, những hàng Thanh văn trong Hội nầy, cầu Tối thượng thừa, thì quyết định sẽ thành Phật, cũng ví như bụi bay gặp gió thuận, có khó khăn gì? Nếu có người, trong đời mạt pháp, muốn ngồi đạo tràng tu hành, trước hết phải giữ cấm giới Tỳ kheo thanh tịnh và cần phải lựa chọn những vị Sa môn giữ giới thanh tịnh bậc nhất để làm thầy mình; nếu không gặp được tăng chúng thật thanh tịnh, thì giới luật nghi chắc không thành tựu được. Sau khi giới được thành tựu rồi, người đó đắp y mới, sạch sẽ, đốt hương, ở riêng một mình, tụng thần chú, do tâm Phật nói, 108 biến; về sau, kết giới dựng lập đạo tràng, cầu các Đức Vô Thượng Như Lai, hiện ở trong các cõi nước mười phương, phóng hào quang đại bi đến rọi nơi đỉnh đầu mình. A Nan, những hàng thanh tịnh Tỳ kheo, hoặc Tỳ kheo ni, hoặc bạch y đàn việt như vậy, trong đời mạt pháp, tâm diệt được tham dâm, giữ giới thanh tịnh của Phật, ở trong đạo tràng, phát nguyện Bồ tát, khi ra, khi vào, khi tắm, khi rửa, cả trong sáu thời đều hành đạo như vậy, không ngủ, đến ba lần bảy ngày, thì tôi tự hiện thân đến trước người ấy, xoa đỉnh an ủi, khiến cho khai ngộ. Ông A Nan bạch Phật rằng: Thưa Thế Tôn, tôi nhớ lời từ bi dạy bảo vô thượng của đức Như Lai, tâm đã khai ngộ, tự biết con đường tu chứng thành quả Vô học, song, những người tu hành, trong đời mạt pháp, muốn lập đạo tràng, cần kết giới thế nào, cho hợp với quy tắc thanh tịnh của chư Phật Thế Tôn? Phật bảo ông A Nan: Nếu người trong đời mạt pháp, muốn lập đạo tràng, trước hết, phải lấy phân con đại lực bạch ngưu ở Tuyết sơn, bạch ngưu nầy, ăn cỏ thơm ngon tốt trong núi và chỉ uống nước trong trên Tuyết sơn, nên cái phân mịn màng; nên lấy cái phân nó, hòa hợp với hương chiên đàn để quét trên mặt đất. Nếu, không phải ở Tuyết sơn, thì phân bạch ngưu hôi nhớp, không thể trát đất được. Vậy thì, phải riêng ở nơi bình nguyên, đào bỏ các lớp đất trên mặt, lấy thứ đất vàng từ 5 thước trở xuống; rồi lấy 10 thứ hương là chiên đàn, trầm thủy, tô hợp, huân lục, uất kim, bạch giao, thanh mộc, linh lăng, cam tùng và kê thiệt, nghiền rây thành bột, trộn với đất ấy thành bùn, để trát trên mặt đất đạo tràng, mỗi bề 1 trượng 6, thành cái đàn bát giác. Giữa trung tâm đàn, an trí một hoa sen làm bằng vàng, bạc, đồng, cây, giữa hoa để một cái bát, trong bát đựng trước nước mù sương tháng tám và trong nước ấy tùy ý cắm các hoa lá hiện có. Rồi lấy 8 cái gương tròn, mỗi cái để một phía, chung quanh hoa sen và bát hoa. Bên ngoài những gương ấy, an trí 16 hoa sen và giữa các hoa sen để 16 lư hương cho trang hoàng. Trong lư hương đốt toàn hương trầm thủy, không cho thấy lửa. Lấy sữa bạch ngưu để trong 16 khí mãnh; lấy sữa làm bánh nướng và các thứ đường cát, bánh rán, bột sữa, tô hộp, mứt gừng, mật ong, bơ tốt, mật tốt, mỗi thứ 16 khí mãnh, đặt ở ngoài hoa sen và quanh vòng hoa sen; để cúng dâng chư Phật và các vị Đại Bồ tát. Trong mỗi thời ăn cơm và ở giữa đêm, lấy nửa thăng mật và 3 cáp bơ, trước đàn để riêng một lư lửa nhỏ; lấy hương đâu lâu bà, nấu lấy nước thơm, rửa than cho sạch; rồi đốt than đỏ hồng trong lư và rót mật bơ vào, đốt cho hết khói để cúng dường chư Phật, Bồ tát. Ở 4 phía ngoài, treo khắp phan và hoa; ở trong phòng đàn, an trí hình tượng hiện có của thập phương Như Lai và các vị Bồ tát nơi 4 vách. Nên ở chính giữa để hình tượng Phật Lô Xá Na, Phật Thích Ca, Phật Di Lặc, Phật A Súc, Phật Di Đà và các hình tượng đại biến hóa của Ngài Quan Âm, lại thêm, hình tượng các vị Kim Cang Tạng Bồ tát để ở hai bên; những tượng của Đế Thích, Phạm vương, Ô sô sắt ma, Lam địa ca, Quân trà lỵ, Tỳ câu chi và Tứ Thiên vương, Tần na, Dạ ca,… treo ở hai bên cửa; lại lấy 8 cái gương treo úp trên hư không, mặt gương nầy đối chiếu với 8 gương trước, đã để trong đàn tràng, làm cho các hình ảnh lồng nhau nhiều lớp. Trong tuần 7 ngày đầu, chí thành đảnh lễ danh hiệu thập phương Như Lai, các vị Đại Bồ tát và A la hán, thường trong 6 thời tụng chú đi quanh đàn, chí tâm hành đạo, một thời thường là 108 biến. Trong tuần 7 ngày thứ 2, một mặt chuyên tâm phát nguyện Bồ tát, tâm không gián đoạn; trong luật nghi đạo, ta đã có chỉ dạy về nguyện. Trong tuần 7 ngày thứ 3, trong cả 12 thời, một mặt trì chú Bát Đát Ra của Phật; đến ngày thứ 7, thì thấy thập phương Như Lai một thời xuất hiện, trong chỗ ánh sáng các mặt gương giao xen và được Phật xoa đỉnh. Rồi, liền ở nơi đạo tràng đó, tu phép Tam ma địa, có thể khiến cho những người tu học như vậy, trong đời mạt pháp, thân tâm được sáng suốt, trong sạch như ngọc lưu ly. A Nan, nếu trong các thầy truyền giới cho vị Tỳ kheo ấy, hay trong 10 vị Tỳ kheo đồng hội, có một người giới hạnh không thanh tịnh, thì những đạo tràng như thế, phần nhiều là không thành tựu. Từ sau 3 tuần 7 ngày, ngồi nghiêm chỉnh an cư, trải qua một trăm ngày, thì những người có lợi căn, không rời khỏi chỗ ngồi, đã được quả Tu đà hoàn; dầu cho nơi thân tâm Thánh quả chưa thành, nhưng đã quyết định tự biết sẽ thành Phật, không sai chạy. Ông hỏi về đạo tràng, thì cách dựng lập như vậy. Ông A Nan đỉnh lễ chân Phật mà bạch Phật rằng: Từ khi xuất gia, tôi ỷ lại nơi lòng thương yêu của Phật; vì cầu huệ đa văn, chưa chứng quả vô vi, nên bị tà thuật Phạm Thiên kia bắt buộc; tâm tuy rõ ràng, nhưng sức không tự do, nhờ gặp ngài Văn thù, khiến cho tôi được giải thoát. Tuy tôi thầm nhờ sức của thần chú Phật đỉnh Như Lai, nhưng chính mình còn chưa được nghe chú ấy, xin nguyện đức đại từ tuyên nói lại cho, thương xót cứu giúp các hàng tu hành trong Hội nầy và những người đời sau, còn trong luân hồi, được nhờ mật âm của Phật, mà thân ý được giải thoát. Lúc bấy giờ, tất cả đại chúng trong hội thảy đều làm lễ, chờ nghe những câu chú bí mật của Như Lai. Lúc đó, Đức Thế Tôn, từ nơi nhục kế phóng ra trăm thứ hào quang báu, trong hào quang hiện ra hoa sen báu ngàn cánh, có hóa thân Như Lai ngồi trong hoa sen, trên đình phóng ra mười đạo hào quang bách bảo; trong mỗi mỗi đạo hào quang, đều hiện ra những vị Kim Cang Mật Tích, số lượng bằng mười số cát sông Hằng, xách núi, cầm xử, khắp cõi hư không. Đại chúng ngửa lên xem, vừa yêu vừa sợ, cầu Phật thương xót che chở, một tâm nghe đức Phóng quang Như Lai, nơi Vô kiến đỉnh tướng của Phật, tuyên nói thần chú: Nam mô sát tát tha, sô ga đa da, a ra ha tê, sam muya sam bô đa sê. Nam mô sát tát tha, bu đa cô ti, si ni sam. Nam mô sát va, bu đa bu ti, sát ta bê tê. Nam mô sát ta nam, sam muya sam bô đa cô ti nam. Sa sê ra pa ca, săng ga nam. Nam mô lu kê a ra han ta nam. Nam mô su ru ta pa na nam. Nam mô sa khít ri ta ca mi nam. Nam mô lu kê sam mya ca ta nam. Sam mya ca pa ra, ti pa ta na nam. Nam mô đê va li si nan. Nam mô si ta da pi ti da, ta ra li si nan. Sê pa nu, gơ ra ha, sô ha sa ra ma tha nam. Nam mô pát ra ha ma ni. Nam mô in đa ra da. Nam mô ba ga va tê. Ru đa ra da. U ma pun ti. Sô hê da da. Nam mô ba ga va tê. Na ra da, na da. Phun cha ma ha, sam mu ta ra. Nam mô si khít ri ta da. Nam mô ba ga va tê. Ma ha ca ra da. Ti ri pa ra na ga ra. Pi ta ra, pa na ca ra da. A ti mu tê. Si ma sa na ni, ba si ni. Ma tát ri ga na. Nam mô si khít ri ta da. Nam mô ba ga va tê. Ta tha ga ta cô ra da. Nam mô pát tâu ma cô ra da. Nam mô pát cha ra cô ra da. Nam mô ma ni cô ra da. Nam mô ga cha cô ra da. Nam mô ba ga va tê. Ti ri đa su ra si na. Pa ra ha ra na ra cha da. Ta tha ga ta da. Nam mô ba ga va tê. Nam mô a mi ta ba da. Ta tha ga ta da. A ra ha tê. Sam mya sam bô đa da. Nam mô ba ga va tê. A sô bi da. Ta tha ga ta da. A ra ha tê. Sam mya sam bô đa da. Nam mô ba ga va tê. Bi sa cha da, cu ru phi chu ri da. Pa ra bà ra cha da. Ta tha ga ta da. Nam mô ba ga va tê. Sam pu su pi ta. Sát lin nai ra si cha da. Ta tha ga ta da. A ra ha tê. Sam mya sam bô đa da. Nam mô ba ga va tê. Sê kê dê mu na dây. Ta tha ga ta da. A ra ha tê. Sam mya sam bô đa da. Nam mô ba ga va tê. Si tát na kê tu ra cha da. Ta tha ga ta da. A ra ha tê. Sam mya sam bô đa da. Ti piêu, nam mô sát khít ri ta. Ê đam, ba ga va ta. Sát tát tha, ga tu si ni sam. Sát tát ta, pát tát lam. Nam mô a ba ra si đam. Paùt ra ti, dang ky ra. Sát ra ba, pu ta gơ ra ha. Ni gơ ra ha, khít ca ra ha ni. Pát ra, pi ti da, cha đa ni. A ca ra, mớt ri chu. Pát ri tát ra da, nang khít ri. Sát ra ba, pun đa na, mu sa ni. Sát ra ba, tát si cha. Tát si pháp, pun ma ni, phát ra ni. Chê tu ra, si ti nam. Gơ ra ha, sô ha sát ra nha cha. Pi ta pang sa na khít ri. A si cha pinh sê ti nam. Na sa sát tát ra nha cha. Pa ra sát tha na khít ri. A si cha nam. Ma ha gơ ra ha nha cha. Pi ta pang sát na khít ri. Sát va sê tu ru, ni ba ra nha cha. Hu lam tát si pháp, nan cha na sê ni. Pi sa sê, si tát ra. A kít ni, u đa ca ra nha cha. A pát ra si ta khu ra. Ma ha pát ra chên chi. Ma ha típ ta. Ma ha ti cha. Ma ha suê ta cha ba ra. Ma ha pát ra pun đa ra, ba si ni. A ri da ta ra. Pi ri cô ti. Si va pi cha da. Pát cha ra, ma ly ty. Pi sê ru ta. Pút tang mang ca. Pát cha ra, chi hô na a cha. Ma ra chi ba, pát ra chi ta. Pát cha ra sin chi. Pi sê ra cha. Sin ta sê, bê đê va, pu si ta. Su ma ru pa. Ma ha suê ta. A ri da ta ra. Ma ha ba ra, a pát ra. Pát cha ra, xương khít ra chê ba. Pát cha ra, cu ma ri. Cu lam ta ri. Pát cha ra, hốt sát ta cha. Pi ti da khin chê na, ma ri ca. Quát su mu, ba khít ra ta na. Vê rô cha na, cu ri da. Da ra thâu, si ni sam. Pi chi lam ba ma ni cha. Pát cha ra, ca na, ca pa ra ba. Rô cha na, pát cha ra, tân chi cha. Suê ta cha, ca ma ra. Sát sa si, pa ra ba. Ê tê di tê. Mu ta ra, kít na. Sô bê ra sam. Quát pham tu. In thâu na, ma ma sê. U hum, Ry si kít na. Pa ra, sê si ta. Sát tát tha, ga tu si ni sam. Hu hum, Tu ru ung, Chim ba na. Hu hum, Tu ru ung, Si đam ba na. Hu hum, Tu ru ung, Pa ra si đi da, sam pát soa, na khít ra. Hu hum, Tu ru ung, Sát va dác sa, hát ra sát sa. Gơ ra ha nha cha. Pi tang pang sát, na khít ra. Hu hum, Tu ru ung, Chê tu ra, si ti nam. Gơ ra ha, sa ha sát ra nam. Pi tang pang sát na ra. Hu hum, Tu ru ung, Ra soa, Ba ga va. Sát tát tha, ga tu si ni sam. Pa ra tim, cha kít ri. Ma ha, sô ha sát ra. Bút su sa, ha sát ra, si ri sa. Cô ti, sô ha sát ni, ti lê. A pi đi si, ba ri ta. Cha cha ang ca. Ma ha pát cha ru ta ra. Ti ri bô ba na. Man ta ra. U hum, Sa si ti, bô ba tu. Ma ma, In thâu na, ma ma sê. Ra cha ba da. Chu ra pát da. A chi ni ba da. U đa ca ba da. Pi sa ba da. Sê sát ta ra ba da. Ba ra chước khiết ra ba da. Tát sít soa ba da. A sê ni ba da. A ca ra mơ ri chu ba da. Đa ra ni, pu mi kim, ba ga va ta ba da. U ra ca, ba đa ba da. Rát cha than đa ba da. Na ga ba da. Pi thiêu tát ba da. Sô pa ra na ba da. Dác soa gơ ra ha. Ra soa si gơ ra ha. Pê ri ta gơ ra ha. Pi sa cha gơ ra ha. Pu ta gơ ra ha. Cu ban đa gơ ra ha. Pu tan na gơ ra ha. Ca cha pu tan na gơ ra ha. Si kin tu gơ ra ha. A pa si ma ra gơ ra ha. U than ma ta gơ ra ha. Sa da gơ ra ha. Hê ri ba ti gơ ra ha. Sê ta ha ri nam. Khít ba ha ri nam. Ru ti ra ha ri nam. Mang sa ha ri nam. Mê ta ha ri nam. Ma cha ha ri nam. Cha ta ha ri nu. Si pi ta ha ri nam. Pi ta ha ri nam. Ba đa ha ri nam. A su cha ha ri nu. Chít ta ha ri nu. Ti sam sát bi sam. Sát va gơ ra ha nam. Pi đa da cha, san đa da mi Kê ra da mi, Pa ri pát ra chê ca, cát ri tam. Pi đa da cha, san đa da mi Kê ra da mi, Đa din ni, cát ri tam. Pi đa da cha, san đa da mi Kê ra da mi, Ma ha pát su pát tát da, Ru đa ra, cát ri tam. Pi đa da cha, san đa da mi Kê ra da mi, Na ra da na, cát ri tam. Pi đa da cha, san đa da mi Kê ra da mi, Tát toa ga ru đa si, cát ri tam. Pi đa da cha, san đa da mi Kê ra da mi, Ma ha ca ra, ma tát ri ga na, cát ri tam. Pi đa da cha, san đa da mi Kê ra da mi, Ca pa ri ca, cát ri tam. Pi đa da cha, san đa da mi Kê ra da mi, Cha da khít ra, ma tu khít ra. Sát va ra tha sa tát na, cát ri tam. Pi đa da cha, san đa da mi Kê ra da mi, Chư chát ra, ba ky ni, cát ri tam. Pi đa da cha, san đa da mi Kê ra da mi, Pi ri dang cát ri chi Nan đa kê sa ra, ga na phun ti. Sát hê da, cát ri tam. Pi đa da cha, san đa da mi Kê ra da mi, Na khít na sa ra ba na, cát ri tam. Pi đa da cha, san đa da mi Kê ra da mi, A ra han, cát ri tam, pi đa da cha, san đa da mi, Kê ra da mi, Pi ta ra ga, cát ri tam. Pi đa da cha, san đa da mi Kê ra da mi, pát cha ra pa mi, Cu hê da cu hê da, Ca đi pát ti cát ri tam. Pi đa da cha, san đa da mi Kê ra da mi, Ra soa mang, Ba ga va, In thâu na ma ma sê. Ba ga va, Si ta ta, pa tơ ra. Nam mô suy tu tê. A si ta na ra chi ca. Pa ra va, si phu cha. Pi ca sát tát ta pát ti ri. Sập phật ra sập phật ra, Đa ra đa ra, Văn đa ra, văn đa ra, san đa san đa. Hu hum, Hu hum. Phun cha, Phun cha, phun cha, phun cha, phun cha. Sô ha, Hê hê phun. A mâu ca da phun. A pa ra đê ha ta phun. Ba ra pa ra ta phun. A sô ra, pi ta ra, pa ca phun. Sát va đê bê pi phun. Sát va na ga pi phun. Sát va dác sa pi phun. Sát va gan đa va pi phun. Sát va pu ta na pi phun. Ca cha pu ta na pi phun. Sát va tát lang chi ti pi phun. Sát va tát sít pi lây, cát si ti pi phun. Sát va sấp ba lay pi phun. Sát va a pa si mô lay pi phun. Sát va sê ra ba na pi phun. Sát va ti tê kê pi phun. Sát va tát ma ta ky pi phun. Sát va pi ta da ra si cha lây pi phun. Cha da khít ra, ma tu khít ra, Sát va ra tha sa đa kê pi phun. Pi ti da cha lây pi phun. Chê tu ra, phác ky ni pi phun. Pát cha ra, cu ma ri, Pi ta da, ra si pi phun. Ma ha pa ra tinh dang, soa ky ri pi phun. Pát cha ra sang khít ra da, Pa ra chang ky ra cha da phun. Ma ha ca ra da, Ma ha mút tát ri ca na, Nam mô sa khít ri ta da phun. Pi si na phi dây phun. Pu ra ha mâu ni dây phun. A ky ni dây phun. Ma ha khít ri dây phun. Khít ra than chi dây phun. Mít tát ri dây phun. Ru tát ri dây phun. Cha man đa dây phun. Khít la ra tát ri dây phun. Ca phun ri dây phun. A ti mu chít ta, ca si ma sa na, Ba su ni dây phun. Din kít chít, Sát tô va sê, Ma ma in thâu na ma ma sê. Tát si cha chít ta. A mút tát ri chít ta. U cha ha ra. Ga ba ha ra. Rô ti ra ha ra. Ba sa ha ra. Ma cha ha ra. Cha ta ha ra. Si pi ta ha ra. Pát lác da ha ra. Khin ta ha ra. Pu sư pa ha ra. Phô ra ha ra. Ba sê ha ra. Pún pa chít ta. Tát si cha chít ta. Lu ta ra chít ta. Dác sa gơ ra ha. Ra sát sa gơ ra ha. Pay lê ta gơ ra ha. Pi sa cha gơ ra ha. Pu ta gơ ra ha. Cu ban đa gơ ra ha. Si khin ta gơ ra ha. U tát ma ta gơ ra ha. Sê dê gơ ra ha. A pa sát ma ra gơ ra ha. Chác khu cát, đa ky ni gơ ra ha. Ri pút ti gơ ra ha. Cha mi ca gơ ra ha. Sa cu ni gơ ra ha. Mu ta ra, nan ti ca gơ ra ha. A lam ba gơ ra ha. Khin tu pa ni gơ ra ha. Sập phạt ra, in ca hê ca. Chuy ti dác ca. Tát lê ti dác ca. Chê tát thác ca. Ni đê sập phạt ra, pi sam ma sập phạt ra. Pô ti ca, Pi ti ca, Sít lê si mi ca. Sa ni pun ti ca. Sát va sập phạt ra. Sít ru kít tê. Mút đa bi tát ru chê kim. A y ru khim. Mu khu ru khim. Khít ri tát ru khim. Khít ra ha, khít lam. Khít na su lam. Tan ta su lam. Ngát ri da su lam. Mát ma su lam. Pát ri si ba su lam. Pi lát si cha su lam. U ta ra su lam. Khít chi su lam. Pát si ti su lam. U ru su lam. Sang ca su lam. Hát si ta su lam. Pát ta su lam. Sa phang ang ca pát ra, chang kha su lam. Pu ta bi ta đa. Đa ky ni sấp ba ra. Ta tát ru ca, kin chát ru kít chi, ba lu ta pi. Sát pát ru ha lang ca. Su sa tát ra, sa na khít ra. Pi sa du ca. A ky ni, u ta ca. Mát ra bê ra, kin ta ra. A ca ra, mít ri chát, than lim pu ca. Ti lất chi cha. Pi ri sít chít ca. Sát va na khu ra. Si dan ga pi, khít ra ri dác sa, tát ra sô. Mát ra si, phê ti sam sa bê sam. Si ta ta, pa tơ ra. Ma ha pát cha ru, sít ni sam. Ma ha pa ra chang ky lam. Da pa tát đa sa du cha na. Pin tan ly na. Pi đa da, ban đam ca ru mi. Ti su, ban đam ca ru mi. Pát ra pi đa, ban đam ca ru mi. Ta đya tha. A ôm, A na lê, Bi su đê, Bê ra, pát cha ra, đa ri. Pun đa pun đa ni, Pát cha ra pang ni phun. Hu hum tu ru ung phun, Sô va ha. A Nan, những câu nhiệm mầu, những kệ bí mật Tất Đát Đa Bát Đát Ra của hóa thân nơi hào quang đỉnh Phật, sanh ra tất cả chư Phật thập phương. thập phương Như Lai nhân chú tâm nầy, thành được vô thượng chánh biến tri giác. thập phương Như Lai nắm chú tâm nầy, uốn dẹp các ma, chế phục các ngoại đạo. thập phương Như Lai vận chú tâm nầy, ngồi hoa sen báu, ứng hiện trong các cõi nước như số vi trần. thập phương Như Lai ngậm chú tâm nầy, nơi cõi nước như số vi trần, xoay bánh xe pháp lớn. thập phương Như Lai giữ chú tâm nầy, có thể nơi mười phương xoa đỉnh thọ ký, tự mình quả vị chưa thành, cũng có thể nơi mười phương nhờ chư Phật thọ ký. thập phương Như Lai nương chú tâm nầy, có thể nơi mười phương cứu vớt các khổ như địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, đui, điếc, ngọng, câm; các khổ oán tăng hội, ái biệt ly, cầu bất đắc, Ngũ ấm xí thịnh; những tai nạn lớn nhỏ đồng thời được giải thoát; nạn giặc, nạn binh, nạn vua, nạn ngục, nạn gió, lửa, nước, cho đến đói khát bần cùng, liền được tiêu tan. thập phương Như Lai theo chú tâm nầy, có thể nơi mười phương, phụng sự thiện tri thức, trong bốn uy nghi, cúng dường được như ý; trong Pháp hội hằng sa Như Lai, được suy tôn là vị Đại Pháp vương tử. thập phương Như Lai dùng chú tâm nầy, có thể nơi mười phương, nhiếp thụ các nhân thân, khiến cho các hàng Tiểu thừa nghe tạng bí mật, không sanh lòng kinh sợ. thập phương Như Lai tụng chú tâm nầy, thành đạo vô thượng giác, ngồi dưới cây Bồ đề, vào Đại Niết bàn. thập phương Như Lai truyền chú tâm nầy, sau khi diệt độ rồi, phó chúc pháp sự của Phật, được trụ trì rốt ráo; giới luật nghiêm tịnh, thảy đều trong sạch. Nếu tôi nói chú Phật Đỉnh Quang Tụ Bát Đát Ra nầy, từ sáng đến tối, các tiếng nối nhau, trong đó những chữ, những câu cũng không trùng điệp, trải qua kiếp số như cát sông Hằng, rốt cuộc không thể hết được. Chú nầy cũng gọi tên là Như Lai Đỉnh. Hàng Hữu học các ông chưa hết luân hồi, phát lòng chí thành tu chứng quả A la hán, nếu không trì chú nầy, khi ngồi đạo tràng, mà khiến thân tâm xa rời được các ma sự, thì không thể được. A Nan, nếu trong các thế giới, có những chúng sanh, tùy cõi nước mình sanh ra, nào vỏ cây hóa, nào lá cây bối, nào giấy trắng, nào bạch diệp, dùng để viết chép chú nầy, đựng trong túi thơm; nếu người đó tối tăm chưa tụng, chưa nhớ được, mà hoặc đeo trên mình, hoặc viết trong nhà ở, thì nên biết người ấy, trọn đời tất cả các thứ độc không thể hại được. A Nan, nay tôi vì ông tuyên lại chú nầy, cứu giúp trong thế gian được đại vô úy và thành tựu trí xuất thế gian cho chúng sanh. Nếu sau khi tôi diệt độ rồi; chúng sanh trong đời mạt pháp, có người biết tự mình tụng, hoặc dạy người khác tụng chú nầy, nên biết những chúng sanh trì tụng như vậy, lửa không đốt được, nước không đắm được, độc lớn, độc nhỏ không thể hại được, cho đến các hàng trời, rồng, quỷ, thần, tinh, kỳ, ma, mị, có những chú dữ, đều không làm gì được. Tâm người ấy được chính thụ; tất cả chú trớ, yểm cổ, thuốc độc, kim độc, ngân độc và độc khí muôn vật như cỏ, cây, sâu, rắn, vào miệng người ấy đều thành vị cam lộ. Tất cả ác tinh với các quỷ thần, lòng dữ hại người, đối với người ấy, cũng không thể khởi ra ác niệm; Tần na, Dạ ca và các Quỷ vương dữ khác, cùng với quyến thuộc, đều lĩnh ơn sâu, thường gìn giữ ủng hộ. A Nan, nên biết chú nầy, thường có 84000 na do tha hằng hà sa câu chi chủng tộc Kim Cang Tạng Vương Bồ tát, mỗi mỗi đều có những chúng Kim Cang làm quyến thuộc, ngày đêm theo hầu. Giả sử có chúng sanh, với tâm tán loạn, chứ không phải Tam ma địa, tâm nhớ niệm trì chú nầy; thì các Kim Cang vương đó, cũng thường theo bên Thiện nam tử kia, huống nữa, là những người có tâm Bồ đề quyết định; đối với những người nầy, các vị Kim Cang Tạng Vương Bồ tát đó, dùng tịnh tâm thầm xúc tiến, phát huy thần thức; người ấy liền khi đó, tâm nhớ lại được 84000 hằng ha sa kiếp, rõ biết cùng khắp, được không nghi hoặc. Từ kiếp thứ nhất cho đến thân cuối cùng, đời đời người ấy không sanh vào các loài Dạ xoa, La sát, Phú đan na, Ca tra Phú đan na, Cưu bàn trà, Tỳ xá già,… cùng các loài ngạ quỷ, có hình, không hình, có tưởng, không tưởng và những chỗ dữ như thế. Thiện nam tử đó, hoặc đọc, hoặc tụng, hoặc viết, hoặc chép, hoặc đeo, hoặc giữ, hoặc cúng dường nhiều cách chú nầy, thì kiếp kiếp không sanh vào những nơi bần cùng hạ tiện, không thể ưa thích. Các chúng sanh đó, dù cho chính mình không làm việc phúc, thập phương Như Lai có các công đức đều cho họ hết, do đó, họ được trong những kiếp hằng sa vô số, không thể nói, không thể nói hết, thường cùng chư Phật đồng sanh một chỗ; vô lượng công đức nhóm lại như trái ác xoa, đồng một chỗ huân tu, hằng không phân tán. Vậy nên, có thể khiến người phá giới, mà giới căn cũng được thanh tịnh; người chưa được giới, khiến cho được giới; người chưa tinh tiến, khiến cho tinh tiến; người không trí huệ, khiến được trí huệ; người không thanh tịnh, mau được thanh tịnh; người không giữ trai giới, tự thành có trai giới. A Nan, Thiện nam tử ấy, khi trì chú nầy, giả sử có phạm cấm giới khi chưa thụ trì, thì sau khi trì chú, các tội phá giới, không luận nặng nhẹ, một thời, đều tiêu diệt, dù đã uống rượu, ăn thứ ngũ tân và các thứ không sạch, tất cả chư Phật, Bồ tát, Kim cang, Thiên tiên, Quỷ thần không cho là có lỗi; dù mặc y phục rách nát không sạch, thì một cái đi, một cái đứng, thảy đồng như thanh tịnh; dù không lập đàn, không vào đạo tràng, cũng không hành đạo mà tụng trì chú nầy, thì công đức cũng như vào đàn, hành đạo, không có khác vậy; dù gây những tội nặng ngũ nghịch, vô gián và phạm những tội tứ khí, bát khí của Tỳ kheo và Tỳ kheo ni, thì khi tụng chú nầy rồi, cũng như gió mạnh thổi tan đống cát, những nghiệp nặng như vậy, đều diệt trừ hết, không còn chút mảy may. A Nan, nếu có chúng sanh, từ vô lượng vô số kiếp đến nay, có tất cả những tội chướng nhẹ, nặng mà trong các đời trước, chưa kịp sám hối, nếu biết đọc, tụng, viết, chép chú nầy, giữ đeo trên thân mình hay để nơi chỗ ở, như trang, trạch, viên, quán, thì những nghiệp chứa nhóm từ trước như vậy, đều tiêu tan như nước sôi tiêu tuyết, chẳng bao lâu, đều ngộ được Vô sanh nhẫn. Lại nữa, A Nan, nếu có người đàn bà chưa sanh con trai, con gái, mong cầu có thai, mà biết chí tâm nhớ niệm chú, hoặc ở trên mình đeo chú Tất Đát Đa Bát Đát Ra nầy, thì liền sanh những con trai, con gái có phúc đức trí huệ; người cầu sống lâu, thì được sống lâu, người cầu quả báo mau được viên mãn, thì mau được viên mãn, cho đến về thân mệnh, sắc lực, thì cũng được viên mãn như vậy; sau khi mệnh chung, tùy nguyện được vãng sanh trong thập phương quốc độ, chắc chắn không sanh nơi biên địa hạ tiện, huống nữa là các tạp hình. A Nan, nếu các cõi nước, các châu, các huyện, các làng xóm bị nạn đói kém, dịch lệ, hoặc ở những nơi có đao binh, tặc nạn, đánh nhau, cãi nhau và tất cả những nơi có ách nạn khác, viết thần chú nầy, để trên bốn cửa thành, cùng các tháp hay trên các thoát xà và khiến chúng sanh hiện có trong cõi nước, kính rước chú nầy, lễ bái cung kính nhất tâm cúng dường, khiến trong nhân dân, mỗi mỗi người đeo chú trong mình, hoặc để nơi chỗ ở, thì tất cả tai ách thảy đều tiêu diệt. A Nan, chúng sanh trong cõi nước, chỗ nào, chỗ nào có được chú nầy, thì thiên long vui mừng, mưa gió thuận thời, ngũ cốc được mùa, dân chúng an vui; lại có thể trấn được tất cả ác tinh, nó tùy nơi, biến ra những điều quái dị; tai chướng không khởi lên, người không hoạnh tử, chết yểu, gông cùm, xiềng xích không dính vào mình, ngày đêm ngủ yên, thường không ác mộng. A Nan, cõi Ta Bà nầy có 84000 ác tinh tai biến, 28 đại ác tinh làm thượng thủ, lại có 8 đại ác tinh làm chủ, xuất hiện trên đời với nhiều hình trạng, có thể sanh ra các tai nạn dị kỳ cho chúng sanh; chỗ nào có chú này, thì tất cả đều tiêu diệt, lấy 12 do tuần làm vòng kết giới, các tai biến hung dữ, hẳn không thể vào được. Vậy nên Như Lai tuyên dạy chú nầy, bảo hộ cho những người tu hành sơ học, trong đời vị lai, vào Tam ma địa, thân tâm thư thái, được đại an ẩn, không còn tất cả các ma, quỷ thần, và những oan khiên đời trước, nghiệp cũ, nợ xưa, từ vô thủy tới nay, đến khuấy hại nhau. Ông với những người Hữu học trong chúng và những kẻ tu hành đời vị lai, y như lời dạy của tôi mà lập đàn trường, đúng theo pháp mà trì giới, gặp được tăng chúng thanh tịnh chủ trì việc thụ giới, đối với chú tâm nầy, không sanh lòng nghi hối; những Thiện nam tử như thế, chính nơi cái thân cha mẹ sanh ra, mà không được tâm thông, thì thập phương Như Lai bèn là vọng ngữ. Phật dạy lời ấy rồi, vô lượng trăm ngàn Kim Cang trong Hội, một thời đứng trước Phật, chấp tay đỉnh lễ mà bạch Phật rằng: Như lời Phật dạy, chúng tôi phải thành tâm bảo hộ những người tu đạo Bồ đề như vậy. Khi bấy giờ, Phạm vương và Đế Thích, Tứ Thiên đại vương cũng ở trước Phật, đồng thời đỉnh lễ mà bạch Phật rằng: Xét có người lành tu học như vậy, chúng tôi phải hết lòng chí thành bảo hộ, khiến cho trong một đời, tu hành được như nguyện. Lại có, vô lượng đại tướng Dạ xoa, các vua La sát, vua Phú đan na, vua Cưu bàn trà, vua Tỳ xá già, các Đại Quỷ vương như Tần na, Dạ ca, và các Quỷ soái, cũng ở trước Phật, chất tay đỉnh lễ mà bạch Phật rằng: Chúng tôi cũng thệ nguyện hộ trì cho người đó, khiến cho tâm Bồ đề mau được viên mãn. Lại có, không lường Nhật, Nguyệt Thiên tử, Phong sư, Vũ sư, Vân sư, Lôi sư cùng với Điện bá và các Niên tuế tuần quan, chư tinh và quyến thuộc,… cùng ở trong hội, đỉnh lễ chân Phật mà bạch Phật rằng: Chúng tôi bảo hộ người tu hành ấy, lập ra đạo tràng, được không e sợ. Lại có, vô lượng Sơn thần, Hải thần, tất cả tinh kỳ, đất đai muôn vật, thủy, lục, không, hành, với Phong thần vương và chư thiên Vô Sắc Giới, ở trước Như Lai, đồng thời cúi đầu bạch Phật rằng: Chúng tôi cũng bảo hộ người tu hành ấy, được thành Bồ đề, hẳn không ma sự. Khi bấy giờ, 84000 na do tha hằng hà sa câu chi Kim Cang Tạng Vương Bồ tát, ở trong hội, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đỉnh lễ nơi chân Phật mà bạch Phật rằng: Thế Tôn, như bọn chúng tôi, công nghiệp tu hành, đã thành đạo Bồ đề lâu rồi, mà không nhận lấy Niết bàn, thường theo chú nầy, cứu giúp những người chân chính tu hành pháp Tam ma địa trong đời mạt pháp. Bạch Thế Tôn, những người tu tâm vào chính định như thế, dù ở đạo tràng, hay là những lúc kinh hành, cho đến khi tán tâm đi chơi trong làng xóm, đồ chúng chúng tôi thường phải đi theo thị vệ người ấy, dù cho Ma vương, Đại Tự Tại thiên muốn được phương tiện khuấy phá, cũng không thể được; các quỷ thần nhỏ, phải cách xa người lành ấy, ngoài 10 do tuần, trừ khi, họ phát tâm thích người tu thiền. Bạch Thế Tôn, những ác ma như thế, hay quyến thuộc của ma, muốn đến xâm lấn khuấy phá người lành ấy, chúng tôi dùng bảo xứ đập nát cái đầu như vi trần, thường khiến cho người ấy tu hành được như nguyện. Ông A Nan, liền từ chỗ ngồi đứng dậy đỉnh lễ nơi chân Phật mà bạch Phật rằng: Chúng tôi ngu độn, ưa huệ đa văn, đối với các tâm hữu lậu, chưa cầu thoát ly, nhờ Phật từ bi dạy bảo được lối huân tu chân chính, thân tâm khoan khoái, được lợi ích lớn. Bạch Thế Tôn, những người tu chứng pháp Tam ma địa của Phật như thế, chưa đến Niết bàn, thì thế nào gọi là Càn huệ địa, trong 44 tâm, đến thứ bậc nào, mới được danh mục tu hành, đến phương sở nào, mới gọi là nhập địa, thế nào, gọi là Đẳng giác Bồ tát? Nói lời ấy rồi, năm vóc gieo xuống đất, trong đại chúng đều nhất tâm, chăm chỉ mong đợi từ âm của Phật. Khi bấy giờ, Đức Thế Tôn khen ông A Nan rằng: Hay thay! Hay thay! Các ông lại biết, vì cả đại chúng và hết thảy chúng sanh tu Tam ma địa, cầu pháp Đại thừa trong đời mạt pháp, xin tôi chỉ trước đường tu hành vô thượng chân chính từ phàm phu đến Đại Niết bàn; nay ông hãy nghe cho chín, tôi sẽ vì ông mà nói. Ông A Nan và đại chúng chấp tay sạch lòng, yên lặng thụ giáo. Phật dạy: A Nan, nên biết diệu tánh là viên minh, rời các danh tướng, bản lai không có thế giới chúng sanh. Nhân cái vọng mà có sanh, nhân cái sanh mà có diệt, sanh diệt gọi là vọng, diệt vọng gọi là chân, ấy gọi là hai hiệu chuyển y Vô thượng Bồ đề và Đại Niết bàn của Như Lai. A Nan, nay ông muốn tu pháp Chân Tam ma địa, đến thẳng Đại Niết bàn của Như Lai, trước hết, phải biết hai cái nhân điên đảo của thế giới và chúng sanh nầy; điên đảo không sanh, đó là Chân Tam ma địa của Như Lai. A Nan, thế nào gọi là điên đảo về chúng sanh? Do cái tâm bản tánh là minh và tánh minh ấy viên mãn cùng khắp, nên nhân tánh minh phát ra hình như có tánh; mà vọng kiến nhận là có tánh sanh ra, từ chỗ rốt ráo là không, lại thành rốt ráo là có. Có cái sở hữu như thế, là do phi nhân làm nhân và những tướng năng trụ, sở trụ rốt ráo không có cỗi gốc. Rồi gốc nơi cái vô trụ đó, mà kiến lập ra thế giới và các chúng sanh. Vì mê, không nhận được tánh viên minh sẵn có, nên sanh ra hư vọng, tánh hư vọng không có tự thể, không phải thật có chỗ nương đứng. Hầu muốn trở lại chân tánh, thì cái muốn chân đó, đã không phải là tánh chân như chân thật. Cầu trở lại không đúng chân lý, thì hiện thành ra những phi tướng: không phải sanh gọi rằng sanh, không phải trụ gọi rằng trụ, không phải tâm gọi rằng tâm, không phải pháp gọi rằng pháp. Xoay vần phát sanh và sanh lực phát huy, huân tập thành ra nghiệp báo; đồng nghiệp thì cảm với nhau, nhân đó, lại cảm ra các nghiệp diệt nhau, sanh nhau, do đó, mới có điên đảo về chúng sanh. A Nan, thế nào gọi là điên đảo về thế giới? Do có cái sở hữu đó, nên từng phần, từng đoạn giả dối sanh ra, vì thế, mà không gian thành lập; do phi nhân làm nhân, không có năng trụ, sở trụ, nên dời đổi mãi, không có năng trụ, sở trụ, nên dời đổi mãi, không an trụ, vì thế, mà thời gian thành lập. Ba đời bốn phương, hòa hợp can thiệp cùng nhau, chúng sanh biến hóa thành 12 loài. Vậy nên trong thế giới, nhân động có tiếng, nhân tiếng có sắc, nhân sắc có hương, nhân hương có xúc, nhân xúc có vị, nhân vị biết pháp, sáu vọng tưởng càn loạn thành ra nghiệp tánh, do đó, 12 cách đối hiện xoay vần mãi mãi. Vậy nên trong thế gian, những thanh, hương, vị, xúc biến đổi cùng tột, đến 12 lần xoay trở lại. Dựa trên những tướng điên đảo, xoay vần đó, nên trong thế giới có những loài noãn sanh, thai sanh, thấp sanh, hóa sanh, hữu sắc, vô sắc, hữu tưởng, vô tưởng, hoặc phi hữu sắc, hoặc phi vô sắc, hoặc phi hữu tưởng, hoặc phi vô tưởng. A Nan, nhân trong thế giới có hư vọng luân hồi, điên đảo về động, nên hòa hợp với khí, thành ra 84000 loạn tưởng bay lặn, vì vậy, nên có mầm trứng trôi lăn trong cõi nước; cá, chim, rùa, rắn, các loài đầy nhẩy. Nhân trong thế giới có tạp nhiễm luân hồi, điên đảo về dục, nên hòa hợp với tư, thành ra 84000 loạn tưởng ngang dọc; vì vậy, nên có bọc thai trôi lăn trong cõi nước; người, súc, rồng, tiên, các loài đầy nhẩy. Nhân trong thế giới có chấp trước luân hồi, điên đảo về thú, nên hòa hợp với noãn, thành ra 84000 loạn tưởng nghiêng ngửa vì vậy, nên có tế thi thấp sanh trôi lăn trong cõi nước; nhung nhúc, quậy động, các loài đầy nhẩy. Nhân trong thế giới có biến dịch luân hồi, điên đảo về giả, nên hòa hợp với xúc, thành ra 84000 loạn tưởng mới cũ; vì vậy, nên có yết nam hóa sanh trôi lăn trong cõi nước; chuyển thoái, phi hành, các loài đầy nhẩy. Nhân trong thế giới có lưu ngại luân hồi, điên đảo về chướng, nên hòa hợp với trước, thành ra 84000 loạn tưởng tinh diệu; vì vậy, nên có yết nam sắc tướng trôi lăn trong cõi nước; hưu cửu, tinh minh, các loài đầy nhẩy. Nhân trong thế giới có tiêu tán luân hồi, điên đảo về hoặc, nên hòa hợp với ám, thành ra 84000 loạn tưởng thầm ẩn, vì vậy, nên có yết nam vô sắc trôi lăn trong cõi nước; không tán tiêu trầm, các loại đầy nhẩy. Nhân trong thế giới có võng tượng luân hồi, điên đảo về ảnh, nên hòa hợp với ức, thành ra 84000 loạn tưởng tiềm kết; vì vậy, nên có yết nam hữu tưởng trôi lăn trong cõi nước; thần quỷ tinh linh, các loài đầy nhẩy. Nhân trong thế giới có ngu độn luân hồi, điên đảo về si, nên hòa hợp với ngoan, thành ra 84000 loạn tưởng khô cảo; vì vậy, nên có yết nam vô tưởng trôi lăn trong cõi nước; tinh thần hóa làm đất, cây, vàng, đá, các loài đầy nhẩy. Nhân trong thế giới có tương đãi luân hồi, điên đảo về ngụy, nên hòa hợp với nhiễm, thành ra 84000 loạn tưởng nhân y; vì vậy, nên có yết nam, không phải có sắc mà có sắc, trôi lăn trong cõi nước; những giống thủy mẫu, dùng tôm làm mắt, các loài đầy nhẩy. Nhân trong thế giới có tương đẫn luân hồi, điên đảo về tánh, nên hòa hợp với chú, thành ra 84000 loạn tưởng hô triệu; vì vậy, nên có yết nam, không phải vô sắc mà vô sắc, trôi lăn trong cõi nước, chú trớ, yếm sanh, các loài đầy nhẩy. Nhân trong thế giới có hợp vọng luân hồi, điên đảo về võng, nên hòa hợp với dị, thành ra 84000 loạn tưởng hồi hỗ; vì vậy, nên có yết nam, không phải có tưởng mà có tưởng, trôi lăn trong cõi nước; những giống tò vò, mượn chất khác thành cái thân của mình, các loài đầy nhẩy. Nhân trong thế giới có oán hại luân hồi, điên đảo về sát, nên hòa hợp với quái, thành ra 84000 tư tưởng ăn thịt cha mẹ; vì vậy, nên có yết nam, không phải vô tưởng mà vô tưởng, trôi lăn trong cõi nước; như con thổ kiêu, ấp khối đất làm con, và chim phá kính; ấp quả cây độc làm con, con lớn lên, thì cha mẹ đều bị chúng ăn thịt, các loài đầy nhẩy. Ấy gọi là mười hai chủng loại chúng sanh. NAM MÔ LĂNG NGHIÊM HỘI THƯỢNG PHẬT BỒ TÁT MA HA TÁT Quyển 8: A Nan, như thế, chúng sanh trong mỗi mỗi loài, cũng đều đủ hết 12 thứ điên đảo. Cũng như dụi con mắt, thì hoa đốm đủ thứ phát sanh ra, chân tâm diệu viên trong sạch sáng suốt mà điên đảo, thì đầy đủ những tư tưởng càn loạn giả dối như vậy. Nay, ông tu chứng Tam ma địa của Phật, thì đối với những tư tưởng càn loạn, làm nguyên nhân cỗi gốc của các điên đảo, nên lập ra ba tiệm thứ mới trừ diệt được, cũng như, trong khí mãnh trong sạch, trừ bỏ mật độc, dùng nước nóng và các thứ chất tro, chất thơm rửa sạch khí mãnh rồi, về sau, mới đựng nước cam lộ. Thế nào gọi là ba tiệm thứ? Một là tu tập, trừ các trợ nhân. Hai là chân tu, nạo sạch chánh tánh. Ba là tăng tiến, trái lại hiện nghiệp. Thế nào là trợ nhân? A Nan, 12 loài chúng sanh đó trong thế giới, không thể tự toàn, phải nương theo bốn cách ăn mà an trụ, nghĩa là, nương theo đoạn thực, xúc thực, tư thực và thức thực; vậy nên Phật bảo tất cả chúng sanh, đều nương với cái ăn mà an trụ. A Nan, tất cả chúng sanh, ăn thức lành thì sống, ăn thức độc thì chết; vậy, các chúng sanh, cầu Tam ma địa, nên dứt bỏ năm thứ rau cay trong thế gian. Năm thứ rau cay nầy, ăn chín thì phát lòng dâm, ăn sống thì thêm lòng giận. Những người ăn rau cay đó, trên thế giới, dù biết giảng nói 12 bộ kinh, thiên tiên 10 phương, hiềm vì nó hôi nhớp, đều tránh xa cả; các loài ngạ quỷ,… nhân trong lúc người kia ăn rau cay, liếm môi mép của người đó; người ấy thường ở với quỷ một chỗ, phúc đức ngày càng tiêu, hằng lâu không được lợi ích. Người ăn rau cay đó, tu phép Tam ma địa, Bồ tát, Thiên tiên, Thiện thần thập phương không đến giữ gìn ủng hộ; Đại lực Ma vương được phương tiện đó, hiện ra thân Phật, đến thuyết pháp cho người kia, chê phá cấm giới, tán thán dâm dục, nóng giận, si mê; đến khi mệnh chung, tự mình người ấy làm quyến thuộc của Ma vương; khi hưởng thụ phúc ma hết rồi, thì đọa vào ngục Vô Gián. A Nan, người tu đạo Bồ đề, phải đoạn hẳn năm thứ rau cay; ấy gọi là tiệm thứ tu hành tăng tiến thứ nhất. Thế nào là chánh tánh? A Nan, chúng sanh như vậy vào Tam ma địa, cốt yếu trước hết, phải nghiêm chỉnh giữ giới thanh tịnh, đoạn hẳn lòng dâm, không dùng rượu thịt, chỉ ăn đồ ăn trong sạch nấu chín, không ăn đồ sống. A Nan, người tu hành đó, nếu không đoạn dâm dục và sát sanh, mà ra khỏi được ba cõi, thì thật không có lẽ như vậy. Nên xem sự dâm dục như là rắn độc, như thấy giặc thù. Trước hết, phải giữ tứ khí, bát khí của giới luật Thanh văn, nắm giữ cái thân không lay động; về sau, hành trì luật nghi thanh tịnh Bồ tát, nắm giữ cái tâm không móng lên. Cấm giới đã thành tựu, thì ở trong thế gian, hẳn không còn những nghiệp sanh nhau, giết nhau; đã không làm việc trộm cướp, thì không còn mắc nợ nhau và cũng khỏi phải trả các nợ kiếp trước trong thế gian. Con người thanh tịnh ấy, tu phép Tam ma địa, chính nơi nhục thân cha mẹ sanh ra, không cần thiên nhãn, tự nhiên thấy được thập phương thế giới, thấy Phật nghe pháp, chính mình vâng lĩnh thánh chỉ của Phật, được phép đại thần thông, đi khắp thập phương thế giới; túc mạng được thanh tịnh, không còn những điều khó khăn nguy hiểm; ấy gọi là tiệm thứ tu hành tăng tiến thứ hai. Thế nào là hiện nghiệp? A Nan, người giữ gìn cấm giới thanh tịnh như vậy, tâm không tham dâm, không hay giong ruổi theo Lục trần ở ngoài; nhân không giong ruổi, tự xoay lại về tánh bản nguyên; trần đã không duyên, thì căn không ngẫu hợp với đâu nữa; trở ngược dòng về chỗ toàn nhất, sáu cái dụng không hiện hành, cõi nước mười phương sáng suốt thanh tịnh, ví như ngọc lưu ly, có mặt trăng sáng treo ở trong ấy. Thân tâm khoan khoái, tánh diệu viên bình đẳng, được đại an ẩn, tất cả mật viên tịnh diệu các đức Như Lai đều hiện trong đó; người ấy liền được Vô sanh Pháp nhẫn. Từ đó, lần lượt tu tập, tùy cái hạnh phát ra mà an tập các thánh vị, đó gọi là tiệm thứ tu hành tăng tiến thứ ba. A Nan, Thiện nam tử ấy, lòng dục ái khô cạn, căn và cảnh không ngẫu hợp, thân tàn hiện tiền, không còn tiếp tục sanh nữa, nắm cái tâm rỗng sáng, thuần là trí huệ; tánh trí huệ sáng suốt cùng khắp, soi thấu thập phương thế giới; chỉ có cái huệ khô khan ấy, nên gọi là Càn huệ địa, tập khí ngũ dục mới khô cạn, chưa tiếp giáp với dòng nước pháp của các đức Như Lai. Tức lấy cái tâm ấy, chính giữa chính giữa lần vào, tánh viên diệu mở mang, từ chỗ chân diệu viên lại phát ra chân diệu. Tánh diệu tín thường trụ, tất cả vọng tưởng diệt hết không còn, trung đạo được thuần chân, gọi là Tín tâm trụ. Chân tín tỏ rõ, tất cả đều viên thông, ba thứ ấm, giới, nhập không thể làm ngăn ngại; như thế, cho đến trong vô số kiếp quá khứ, vị lai, tất cả tập khí xả thân, thụ thân đều hiện ra trước mặt, Thiện nam tử ấy đều có thể nhớ nghĩ được, không quên mất gì; gọi là Niệm tâm trụ. Tánh diệu viên thuần chân, chân tinh phát hóa ra, các tập khí vô thủy đều thông vào một tánh tinh minh, chỉ dùng tinh minh ấy, tiến đến chỗ chân tịnh; gọi là Tinh tấn tâm. Tâm tinh hiện tiền, thuần dùng trí huệ; gọi là Huệ tâm trụ. Nắm giữ trí huệ sáng suốt, lặng đứng cùng khắp, tánh tịch diệu thường đứng lại; gọi là Định tâm trụ. Định quang phát minh, đi sâu vào tánh sáng suốt, chỉ có tới, chứ không lui; gọi là Bất thối tâm. Tâm an nhiên đi tới, giữ gìn không mất, giao tiếp với khí phần thập phương Như Lai; gọi là Hộ pháp tâm. Giữ gìn tánh giác minh, có thể dùng diệu lực xoay từ quang của Phật về nơi mình và hướng về Phật mà an trụ, cũng như hai gương sáng đối nhau, trong đó các bóng nhiệm mầu lớp lớp lồng nhau; gọi là Hồi hướng tâm. Tự tâm thầm xoay Phật quang trở về, được vô thượng diệu tịnh thường trụ của Phật, an trụ nơi vô vi, được không bỏ mất; gọi là Giới tâm trụ. Tự tại an trụ nơi giới, có thể đi khắp mười phương, tùy nguyện mà đi; gọi là Nguyện tâm trụ. A Nan, Thiện nam tử đó, dùng phương tiện chân chính phát được mười cái tâm ấy, tâm tinh đã phát huy, mười cái dụng ấy xen lẫn với nhau, viên thành một tâm; gọi là Phát tâm trụ. Trong tâm phát ra sáng suốt, như ngọc lưu ly trong sạch, ở trong hiện ra vàng ròng; dùng cái diệu tâm trước kia, sửa sang thành chỗ nương đứng; gọi là Trị địa trụ. Tâm địa biết khắp, đều được rõ ràng, đi cùng mười phương, được không ngăn ngại; gọi là Tu hành trụ. Hạnh đồng với Phật, nhận khí phần của Phật như thân trung ấm tự cầu cha mẹ, âm tín thầm thông vào giống Như Lai; gọi là Sanh quý trụ. Đã vào đạo thai, chính mình nhờ được sự nuối nấng của tánh giác, như cái thai đã thành, tướng người không thiếu; gọi là Phương tiện cụ túc trụ. Hình dáng như Phật, tâm tướng cũng vậy; gọi là Chánh tâm trụ. Thân tâm hợp thành, ngày càng tăng trưởng; gọi là Bất thối trụ. Linh tướng mười thân, một thời đầy đủ; gọi là Đồng chân trụ. Hình đã thành, ra khỏi thai, chính mình làm Phật tử; gọi là Pháp vương tử trụ. Nghi biểu đã thành người lớn, như khi một quốc vương, phân công ủy nhiệm cho thái tử các việc nước, thì quốc vương kia, lúc thái tử trưởng thành, bày ra lễ quán đỉnh; gọi là Quán đỉnh trụ. A Nan, Thiện nam tử đã thành Phật tử rồi, đầy đủ diệu đức vô lượng của Như Lai và tùy thuận mười phương; gọi là Hoan hỉ hạnh. Khéo biết làm lợi ích cho tất cả chúng sanh; gọi là Nhiêu ích hạnh. Tự giác và giác tha, được không chống trái; gọi là Vô sân hận hạnh. Theo các chủng loại mà hiện ra sắc thân cùng tột vị lai, ba đời đều bình đẳng, mười phương được thông suốt; gọi là Vô hận hạnh. Tất cả đều hợp về đồng, nơi các thứ Pháp môn, được không sai lầm; gọi là Ly si loạn hạnh. Rồi ở trong đồng, hiện ra các cái khác, nơi mỗi mỗi tướng khác, mỗi mỗi đều thấy là đồng; gọi là Thiện hiện hạnh. Như vậy, cho đến mười phương hư không, đầy khắp vi trần và trong mỗi mỗi vi trẩn hiện ra thập phương thế giới; hiện vi trần, hiện thế giới, không ngăn ngại nhau; gọi là Vô trước hạnh. Các thứ hiện tiền, đều là đệ nhất Ba la mật đa; gọi là Tôn trọng hạnh. Viên dung như vậy, có thể thành tựu quy tắc của chư Phật mười phương; gọi là Thiện pháp hạnh. Mỗi mỗi đều là Nhất chân vô vi Thanh tịnh vô lậu, vì tánh bản nhiên là như vậy; gọi là Chân thật hạnh. A Nan, Thiện nam tử đó đầy đủ thần thông, thành tựu Phật sự rồi, toàn là một tinh chân thuần khiết, xa các lỗi lầm, chính khi hóa độ chúng sanh mà diệt tướng năng độ, sở độ, xoay tâm vô vi hướng về đường Niết bàn; gọi là Cứu hộ nhất thiết chúng sanh, Ly chúng sanh tướng hồi hướng. Diệt hoại tất cả cái gì có thể diệt hoại, viễn ly các sự ly; gọi là Bất hoại hồi hướng. Tánh bản giác đứng lặng, Giác ngộ bằng Phật; gọi là Đẳng nhất thiết Phật hồi hướng. Tinh chân phát ra sáng suốt, tâm địa như Phật địa, gọi là Chí nhất thiết xứ hồi hướng. Thế giới và Như Lai, dung hợp vào nhau, được không ngăn ngại; gọi là Vô tận công đức tạng hồi hướng. Nơi đồng với Phật địa, trong ấy phát sanh ra các nhân thanh tịnh, nương nhân ấy mà phát huy, đi đến đạo Niết bàn; gọi là Tùy thuận bình đẳng thiện căn hồi hướng. Chân căn đã thành tựu, thập phương chúng sanh đều là bản tánh của mình, bản tánh viên mãn thành tựu, không bỏ mất chúng sanh; gọi là Tùy thuận đẳng quán nhất thiết chúng sanh hồi hướng. Tức tất cả pháp, ly tất cả tướng, cả tức và ly, hai cái đều không dính; gọi là Chân như tướng hồi hướng. Thật được như như, mười phương không ngăn ngại; gọi là Vô phược giải thoát hồi hướng. Tánh đức viên mãn thành tựu, lượng của Pháp giới diệt; gọi là Pháp giới vô lượng hồi hướng. A Nan, Thiện nam tử đó, tu hết 41 tâm thanh tịnh ấy rồi, thì lại thành tựu bốn thứ gia hạnh diệu viên: Tức lấy Phật giác, dùng làm tâm mình, như ra nhưng chưa ra, ví như dùi cây để cho ra lửa mà đốt cái cây; gọi là Noãn địa. Lại lấy tâm mình, thành chỗ đứng của Phật, hình như nương, nhưng không phải nương, ví như người lên chóp núi cao, thân đã vào hư không, nhưng ở dưới còn chút ngăn ngại; gọi là Đỉnh địa. Tâm và Phật là đồng, khéo được trung đạo, ví như người biết nhịn, không phải ôm vào, nhưng cũng không phải phát ra; gọi là Nhẫn địa. Số lượng đều tiêu diệt, mê, giác và trung đạo, cả hai đều không có gì; gọi là Thế đệ nhất địa. A Nan, Thiện nam tử đó thông suốt đúng đắn đạo Đại Bồ đề, chỗ Giác ngộ thông với Như Lai, cùng tột cảnh giới của Phật; gọi là Hoan hỉ địa. Tánh khác nhập với đồng, tánh đồng cũng diệt; gọi là Ly cấu địa. Thanh tịnh cùng tột, sáng suốt sanh ra; gọi là Phát quang địa. Sáng suốt tột, giác viên mãn; gọi là Diệm huệ địa. Tất cả cái đồng, cái khác, không thể đến được; gọi là Nan thắng địa. Bản tánh thanh tịnh vô vi, chân như tỏ lộ; gọi là Hiện tiền địa. Tột bờ bến chân như; gọi là Viễn hành địa. Một tâm chân như; gọi là Bất động địa. Phát cái dụng chân như; gọi là Thiện huệ địa. A Nan, các Bồ tát đó, từ đây về trước, công hạnh tu tập đã xong, công đức được viên mãn, cũng gọi địa nầy là Tu tập vị; bóng từ, mây diệu, trùm bể Niết bàn; gọi là pháp vân địa. Như Lai ngược dòng trở lại, vị Bồ tát đó thuận dòng đi tới, Giác ngộ vào chỗ giao tiếp với nhau; gọi là Đẳng giác. A Nan, từ tâm Càn huệ đến Đẳng giác rồi, giác đó mới bắt đầu được Sơ càn huệ địa trong tâm Kim Cang; như vậy lớp lớp tu đơn, tu kép 12 vị mới cùng tột Diệu giác, thành đạo Vô thượng. Các thứ địa ấy, đều lấy trí Kim Cang quán sát mười thứ ví dụ như huyễn sâu xa, trong Xa ma tha, dùng phép Tỳ bà xá na của các Đức Như Lai mà thanh tịnh tu chứng, lần lượt đi sâu vào. A Nan, như thế, đều dùng ba tiệm thứ tăng tiến, nên khéo thành tựu 55 vị trong đường Bồ đề chân thật. Làm cái quán như vậy, gọi là chánh quán; nếu quán cách khác, gọi là tà quán. Khi bấy giờ, ngài Văn Thù Sư Lợi Pháp vương tử, ở trong đại chúng, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đỉnh lễ nơi chân Phật mà bạch Phật rằng: Nên gọi kinh nầy là gì? Tôi và chúng sanh phải phụng trì thế nào? Phật bảo ngài Văn Thù Sư Lợi: Kinh nầy tên là Đại Phật Đỉnh Tất Đát Đa Bát Đát Ra Vô Thượng Bảo Ấn Thập Phương Như Lai Thanh Tịnh Hải Nhãn. Cũng gọi tên là Cứu Hộ Thân Nhân Độ Thoát A Nan Cập Thử Hội Trung Tánh Tỳ kheo Ni Đắc Bồ Đề Tâm Nhập Biến Tri Hải. Cũng gọi tên là Như Lai Mật Nhân Tu Chứng Liễu Nghĩa. Cũng gọi tên là Đại Phương Quảng Diệu Liên Hoa Vương Thập Phương Phật Mẫu Đà La Ni Chú. Cũng gọi tên là Quán Đỉnh Chương Cú Chư Bồ Tát Vạn Hạnh Thủ Lăng Nghiêm. Các ông nên phụng trì. Phật nói lời ấy rồi, liền khi đó, ông A Nan và cả đại chúng được nhờ đức Như Lai khai thị ý nghĩa mật ấn Bát Đát Ra, lại nghe được những tên gọi liễu nghĩa của kinh nầy, liền ngộ được Diệu lý tăng thượng để tu tiến vào các thánh vị trong Thiền na; tâm niệm rỗng trống đứng lặng, ông đoạn trừ 6 phẩm phiền não vi tế trong tư hoặc tam giới. Ông liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đỉnh lễ nơi chân Phật, chấp tay cung kính mà bạch Phật rằng: Thưa Đức Thế Tôn, có uy đức lớn, phát ra từ âm không ngăn ngại, khéo khai ngộ những lỗi lầm sâu kín nhỏ nhiệm của chúng sanh, khiến cho chúng tôi ngày nay, thân tâm khoan khoái, được lợi ích lớn. Bạch Thế Tôn, nếu cái chân tâm diệu minh trong sạch nhiệm mầu, bản lai cùng khắp viên mãn, như thế, cho đến bản tánh chân như của đất liền, cỏ cây, các loài máy động, tức là chân thể thành Phật của Như Lai. Thể tánh của Phật đã là chân thật, làm sao, lại có các đạo địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, tu la, loài người và trời. Bạch Thế Tôn, những đạo đó lại là bản lai tự có, hay là do tập khí giả dối của chúng sanh sanh khởi ra? Bạch Thế Tôn, như Tỳ kheo ni Bảo Liên Hương giữ Bồ tát giới, lén lút làm việc dâm dục, lại nói càn rằng làm việc dâm dục không phải giết người, không phải trộm cắp, không có nghiệp báo; phát ra lời nói ấy rồi, trước hết nơi nữ căn sanh ra ngọn lửa hồng lớn, về sau từng đốt, từng đốt, bị lửa đốt cháy, sa vào địa ngục Vô Gián. Như đại vương Lưu Ly; Tỳ kheo Thiện Tinh; Lưu Ly vì giết họ hàng Cù Đàm, Thiện Tinh vì nói càn tất cả các pháp đều rỗng không mà thân sống sa vào địa ngục A Tỳ. Các địa ngục ấy, lại là có chỗ nhất định, hay là tự nhiên khi các người kia gây nghiệp, thì mỗi người, mỗi người chịu riêng? Xin Phật rủ lòng đại từ, khai ngộ cho kẻ ngây thơ, khiến cho tất cả chúng sanh trì giới, nghe nghĩa quyết định, vui mừng tôn trọng kính cẩn giữ gìn không phạm. Phật bảo ông A Nan: Hay thay lời hỏi đó, khiến cho các chúng sanh không mắc tà kiến. Nay ông hãy nghe cho chín, tôi sẽ vì ông mà nói. A Nan, tất cả chúng sanh, thật vốn chân tánh thanh tịnh, nhân những vọng kiến, mà có tập khí hư vọng sanh ra; vì thế, chia ra có phận trong và phận ngoài. A Nan, phận trong, tức là ở trong phận của chúng sanh. Nhân các lòng ái nhiễm phát khởi ra vọng tình, tình chứa mãi không thôi, có thể sanh ra ái thủy; vậy nên chúng sanh, tâm nhớ thức ăn ngon, thì trong miệng nước chảy ra; tâm nhớ người trước, hoặc thương, hoặc giận, thì trong con mắt lệ tràn; tham cầu của báu, thì trong tâm phát ra ái diên, cả mình đều trơn sáng; tâm dính vào việc dâm dục, thì hai căn nam nữ tự nhiên dịch khí chảy ra. A Nan, các cái ái đó, tuy khác nhau, nhưng kết quả chảy nước là đồng; thấm ướt không lên được, tự nhiên theo đó mà sa đọa, ấy gọi là phận trong. A Nan, phận ngoài, tức là ngoài phận của chúng sanh. Nhân các lòng phát ngưỡng, phát minh ra những lý tưởng; tưởng chứa mãi không thôi, có thể sanh ra những thắng khí; vậy nên chúng sanh, tâm giữ cấm giới, cả mình nhẹ nhàng trong sạch; tâm trì chú ấn, con mắt ngó hùng dũng nghiêm nghị; tâm muốn sanh lên cõi trời, chiêm bao thấy bay lên; để tâm nơi cõi Phật, thánh cảnh thầm hiện ra; thờ vị thiện tri thức, tự khinh rẻ thân mệnh mình. A Nan, các tưởng đó tuy khác, nhưng nhẹ nhàng cất lên thì đồng nhau; cất bay không chìm xuống, tự nhiên vượt lên, đó là phận ngoài. A Nan, tất cả thế gian, sống chết nối nhau, sống thuận theo tập quán, chết thì đổi sang dòng khác, khi gần mệnh chung, chưa hết hơi nóng, thiện ác một đời đồng thời liền hiện ra; cái nghịch của chết, cái thuận của sống, hai tập khí giao xen lẫn nhau. Thuần là tưởng, thì liền bay lên, chắc sanh trên các cõi trời; nếu trong tâm bay lên, gồm có phúc đức trí huệ cùng với tịnh nguyện, thì tự nhiên tâm được khai ngộ, thấy tất cả Tịnh Độ thập phương chư Phật, theo nguyện mà vãng sanh. Tình ít, tưởng nhiều, cất lên không xa, thì làm phi Tiên, Đại lực Quỷ vương, phi hành Dạ xoa, địa hành La sát, đi khắp bốn cõi trời, không bị ngăn ngại. Nếu có nguyện tốt, tâm tốt, hộ trì Phật pháp, hoặc hộ trì cấm giới, theo người trì giới, hoặc hộ trì thần chú, theo người trì chú, hoặc hộ trì thiền định, giữ yên pháp nhẫn, thì những hạng đó, chính mình được ở dưới pháp tọa Như Lai. Tình và tưởng cân nhau, không bay lên, không đọa xuống, thì sanh nơi nhân gian; tưởng sáng suốt nên thông minh, tình u ám nên ngu độn. Tình nhiều, tưởng ít, đi vào các loại hoành sanh, nặng làm giống có lông, nhẹ làm giống có cánh. Bảy phần tình, ba phần tưởng, chìm xuống dưới thủy luân, sanh nơi mé hỏa luân chịu khí phần của lửa hồng, thân làm ngạ quỷ, thường bị đốt cháy, vì nước có thể hại mình, nên trải trăm nghìn kiếp, không ăn không uống. Chín phần tình, một phần tưởng, xuống thấu qua hỏa luân, và giữa giao giới phong luân và hỏa luân, nhẹ thì sanh vào Hữu Gián, nặng thì mình vào Vô Gián, hai thứ địa ngục. Thuần là tình, thì chìm sâu vào ngục A Tỳ; nếu trong tâm chìm sâu đó, lại có hủy báng Đại thừa, phá cấm giới của Phật, lừa dối nói pháp để tham cầu tín thí, lạm nhận cung kính hoặc phạm ngũ nghịch, thập trọng thì lại còn sanh vào địa ngục A Tỳ thập phương. Theo ác nghiệp gây ra, tuy tự chuốc lấy quả báo, nhưng trong đồng phận chung, vẫn có chỗ sẵn. A Nan, những điều như thế, đều do nghiệp báo các chúng sanh kia, tự chiêu cảm lấy, như gây mười Tập nhân, thì chịu sáu Giao báo. Thế nào là mười Tập nhân? A Nan, một là, tập quán dâm dục, giao tiếp cùng nhau, phát sanh cọ xát lẫn nhau; cọ xát mãi không thôi, như thế, nên trong ấy có ngọn lửa hồng lớn nổi lên; ví như, có người lấy hai bàn tay cọ xát lẫn nhau, thì cảm giác nóng hiện ra. Hai cái tập khí đốt nhau, nên có những việc giường sắt, trụ đồng. Vậy nên, tất cả các đức Như Lai thập phương nhận xét việc dâm dục, đồng gọi là lửa dục; Bồ tát đối với dâm dục, tránh như hầm lửa. Hai, là tập quán tham lam, so đo hơn thiệt, phát sanh hấp thụ lẫn nhau; hấp thụ ôm ấp mãi không thôi, như thế, nên chứa hơi lạnh bên trong thành giá cứng, làm cho nẻ nứt; ví như, có người hút hơi gió vào, thì có cảm xúc lạnh. Hai tập khí lấn nhau, nên có những sự tra tra, ba ba, la la, thanh liên, xích liên, bạch liên, hàn băng,… Vậy nên, tất cả các đức Như Lai thập phương nhận xét việc tham cầu quá nhiều, đồng gọi là nước tham; Bồ tát đối với lòng tham, tránh như biển độc. Ba, là tập quán ngã mạn, lấn lướt lẫn nhau, phát sanh ỷ thế với nhau. Giong ruổi không thôi, như thế, nên có sự bôn ba, sôi nổi, chứa lại thành nước; ví như, có người miệng lưỡi tự chép, làm cho nước bọt chảy ra. Hai tập khí chọi nhau, nên có các việc sông huyết, sông tro, cát nóng, biển độc, bắt uống nước đồng chảy… Vậy nên, tất cả các đức Như Lai mười phương nhận xét lòng ngã mạn, đồng gọi là uống nước si mê; Bồ tát đối với ngã mạn, tránh như vực thẳm lớn. Bốn, là tập quán nóng giận, xung đột cùng nhau, phát sanh chống đối lẫn nhau; chống đối mãi không thôi, tâm nổi nóng, phát ra lửa, nấu cái khí thành kim thuộc, vì thế, nên có núi dao, đòn sắt, cây gươm, bánh xe gươm, những búa, những vớt, những thương, những cưa; ví như, có người bị hàm oan, thì sát khí nổi lên. Hai tập khí đập nhau, nên có các sự thiến, cắt, chém, chặt, dùi, đâm, đập, đánh. Vậy nên, tất cả các đức Như Lai thập phương nhận xét sự nóng giận, đồng gọi là dao gươm bén; Bồ tát đối với lòng nóng giận, tránh như tránh chém giết. Năm, là tập quán giả dối, dụ dỗ theo nhau, phát sanh lôi kéo lẫn nhau; dẫn dắt mãi không thôi, như thế, nên có giây, cây, thòng lọng, căng nọc; ví như, nước thấm ruộng thì cỏ cây lớn lên. Hai tập khí kéo nhau, nên có các sự gông, cùm, xiềng, xích, roi, gậy, qua, bổng. Vậy nên, tất cả các đức Như Lai thập phương nhận xét sự giả dối, đồng gọi là sàm tặc; Bồ tát đối với sự gian dối, sợ như beo sói. Sáu, là tập quán lừa gạt, lừa dối với nhau, phát sanh phỉnh gạt lẫn nhau; phỉnh gạt mãi không thôi, phát tâm gây điều gian dối; như thế, nên có bụi, đất, đại tiện, tiểu tiện, các đồ nhơ nhớp không sạch; như bụi theo gió, không thấy lẫn nhau. Hai tập khí dìm nhau, nên có những sự chìm đắm, nhảy, ném, bay, rơi, trôi lăn. Vậy nên, tất cả các đức Như Lai thập phương nhận xét sự lừa gạt, đồng gọi là cướp giết; Bồ tát đối với sự lừa gạt, như giẫm rắn độc. Bảy, là tập quán thù oán, hiềm khích lẫn nhau, phát sanh ôm ấp lòng giận, như thế, nên có quăng đá, ném gạch, hộp nhốt, xe cũi, bình đựng, đãy bọc, như người hiểm độc ôm ấp điều dữ. Hai tập khí nuốt nhau, nên có những sự ném, quăng, nắm, bắt, đánh, bắn, gieo, ôm. Vậy nên, tất cả các đức Như Lai thập phương nhận xét sự thù oán, gọi là quỷ Vi hại; Bồ tát đối với sự thù oán, như uống ruợu độc. Tám, là tập quán ác kiến, tranh cãi với nhau, như ngã kiến, kiến thủ, giới cấm thủ và các nghiệp tà ngộ, phát sanh chống trái lẫn nhau; như thế, nên có quan lại chứng thực, nắm giữ giấy tờ, đông như người đi đường, qua lại gặp nhau. Hai tập khí giao nhau, nên có các sự khám hỏi, mưu mẹo, khảo tấn, đòi hỏi, gạn xét, cứu tra cho rõ và những đồng tử thiện ác, tay cầm sổ sách, biện bạch cãi vã. Vậy nên, tất cả các đức Như Lai thập phương nhận xét ác kiến, đồng gọi là kiến khanh; Bồ tát đối với những thiên chấp hư vọng, như đứng bên hố độc. Chín, là tập quán vu vạ, làm hại cho nhau, phát sanh sự vu báng, như thế, nên có hợp sơn, hợp thạch, cối nghiền, cối xay; ví như, kẻ sàm tặc, áp bức vu oan người lương thiện. Hai tập khí bài xích lẫn nhau, nên có các sự áp giải, đè đập, ép huyết, tuốt mình. Vậy nên, tất cả các đức Như Lai thập phương, nhận xét sự vu vạ, đồng gọi là sàm hổ; Bồ tát đối với sự vu vạ, như bị sấm sét. Mười, là tập quán kiện thưa, cãi vã lẫn nhau, phát sanh sự che đậy; như thế, nên có gương soi, đuốc chiếu, như giữa ban ngày, không giấu bóng được. Hai tập khí phô bày lẫn nhau, nên có ác hữu, nghiệp kính, hỏa châu phơi bày nghiệp xưa đối nghiệm các việc. Vậy nên, tất cả các đức Như Lai thập phương nhận xét sự che đậy, gọi là giặc ngầm; Bồ tát đối với sự che đậy, như đội núi cao, lội trong biển lớn. Thế nào là sáu Giao báo? A Nan, tất cả chúng sanh, Lục thức gây nghiệp, nên ác báo chuốc lấy, đều từ Lục căn mà ra. Các ác báo từ Lục căn ra như thế nào? Một, là giao báo về thấy, chiêu cảm ác quả. Khi nghiệp thấy ấy giao báo, thì lúc lâm chung, trước hết thấy lửa hồng đầy khắp 10 phương; thần thức người chết bay rơi theo khói vào ngục Vô Gián, phát ra hai tướng: Một là thấy sáng, thì khắp thấy nhiều thứ vật dữ, sanh ra khiếp sợ vô cùng; hai là thấy tối, lặng vậy không thấy gì sanh ra hoảng hốt vô hạn. Lửa thấy như thế, đốt cái nghe, thì có thể làm vạc dầu sôi, làm nước đồng chảy; đốt hơi thở, thì có thể làm khói đen, lửa đỏ; đốt cái nếm, thì có thể làm viên tròn nung đỏ, làm cơm sắt; đốt cảm xúc, thì có thể làm tro nóng, lò than; đốt tâm ý, thì có thể sanh ra sao lửa rưới khắp, làm rung động cả cõi hư không. Hai, là giao báo về nghe, chiêu cảm ác quả. Khi nghiệp nghe ấy giao báo, thì lúc lâm chung, trước hết, thấy sóng cuộn chìm ngập trời đất; thần thức người chết, sa xuống theo dòng vào ngục Vô Gián, phát ra hai tướng: Một là nghe tỏ, nghe các thứ ồn ào, tinh thần rối loạn; hai là điếc hẳn, lặng lẽ, không nghe gì, thức thần chìm lịm. Sóng nghe như thế, rót vào cái nghe, thì có thể làm trách, làm hỏi; rót vào cái thấy, thì có thể làm sấm, làm thét, làm hơi độc dữ; rót vào hơi thở, thì có thể làm mưa, làm mù, rưới các sâu độc đầy khắp thân thể; rót vào các vị, thì có thể làm mủ, làm huyết, các thứ nhơ nhớp; rót vào cảm xúc, thì có thể làm con súc, làm con quỷ, làm phân, làm nước tiểu; rót vào ý nghĩ, thì có thể làm chớp, làm mưa đá, đập nát tâm thức. Ba, là giao báo về ngửi, chiêu cảm ác quả. Khi nghiệp ngửi ấy giao báo, thì lúc lâm chung, trước hết, thấy hơi độc đầy nhẩy xa gần; thần thức người chết, từ dưới đất trổi lên, vào ngục Vô Gián, phát hiện ra hai tướng: Một là ngửi thông, bị các hơi dữ xông tột bực, làm cho tâm rối loạn; hai là ngạt mũi, hơi thở ngạt không thông, nằm chết giấc dưới đất. Hơi ngửi như thế, xông vào hơi thở, thì có thể làm thông, làm ngạt; xông vào cái thấy, thì có thể làm lửa, làm đuốc; xông vào cái nghe, thì có thể làm chìm ngập, làm chết đuối, làm nước lớn, làm nước sôi; xông vào cái vị, thì có thể làm đói, làm ngấy; xông vào cái cảm xúc, thì có thể làm xấu, làm nát, làm núi thịt lớn có trăm ngàn con mắt, hút ăn không cùng; xông vào ý nghĩ, thì có thể làm tro, làm chướng khí, làm gạch đá bay lên đánh nát thân thể. Bốn, là giao báo về vị, chiêu cảm ác quả. Khi nghiệp vị ấy giao báo, thì lúc lâm chung, trước hết, thấy lưới sắt nung đỏ che khắp thế giới; thần thức người chết từ dưới tung lên, mắc lưới treo ngược đầu xuống, vào ngục Vô Gián, phát ra hai tướng: Một là nuốt vào, thì kết thành giá lạnh, làm nứt nẻ thân thể; hai là mửa ra, thì bay lên thành lửa hồng, đốt rụi xương tủy. Vị báo như thế, qua cái nếm, thì có thể làm nhận, làm chịu; qua cái thấy, thì có thể làm các thứ kim thạch đốt cháy; qua cái nghe, thì có thể làm binh khí sắc bén; qua hơi thở, thì có thể làm lồng sắt lớn che khắp cõi nước; qua cảm xúc, thì có thể làm cung, làm tên, làm mỏ, làm bắn; qua ý nghĩ, thì có thể làm sắt nóng bay, từ trên không rưới xuống. Năm, là giao báo về xúc, chiêu cảm ác quả. Khi nghiệp xúc ấy giao báo, thì lúc lâm chung, trước hết, thấy núi lớn bốn mặt hợp lại, không còn đường ra; thần thức người chết thấy thành sắt lớn, rắn lửa, chó lửa, hùm sói, sư tử, ngục tốt đầu trâu, la sát đầu ngựa, tay cầm thương, xóc, lùa vào cửa thành, hướng về ngục Vô Gián, phát ra hai tướng: Một là hợp xúc, thì núi kẹp ép mình, xương thịt nát ra máu; hai là ly xúc, thì dao gươm chạm vào mình, tim gan cắt xẻ. Xúc báo như vậy, qua cái xúc, thì có thể làm đạo, làm quán, làm sảnh, làm án; qua cái thấy, thì có thể làm đốt, làm nung; qua cái nghe, thì có thể làm đập, làm đánh, làm đâm, làm bắn; qua hơi thở, thì có thể làm trùm, làm đẫy, làm tra, làm trói; qua cái nếm, thì có thể làm cày, làm kiềm, làm chém, làm chặt; qua ý nghĩ, thì có thể làm rơi, làm bay làm nấu, làm nướng. Sáu, là giao báo về ý nghĩ, chiêu cảm ác quả. Khi nghiệp ý ấy giao báo, thì lúc lâm chung, trước hết thấy gió dữ thổi nát cõi nước, thần thức người chết bị thổi lên trên không xoay rơi theo gió, sa vào ngục Vô Gián, phát ra hai tướng: Một là không biết, tột mê, thì hoang mang, ruổi chạy không thôi; hai là không mê, hay biết, thì khổ, bị đốt cháy không cùng, đau buốt không chịu nổi. Ý báo như thế, kết vào ý nghĩ, thì có thể làm phương, làm sở; kết vào cái thấy, có thể làm gương soi, làm chứng cứ; kết vào cái nghe, thì có thể làm đại hợp thạch, làm giá, làm sương, làm đất, làm mù; kết vào hơi thở, thì có thể làm xe lửa lớn, làm thuyền lửa, cũi lửa; kết vào cái nếm, thì có thể làm kêu la to, làm ăn năn, làm khóc lóc; kết vào cái cảm xúc, thì có thể làm lớn, làm nhỏ, làm cho một ngày muôn lần sống, muôn lần chết, làm nghiêng, làm ngửa. A Nan, thế gọi là 10 nhân và 6 quả của địa ngục, nhân quả ấy đều do mê vọng của chúng sanh tạo ra. Nếu các chúng sanh, Lục căn đồng tạo nghiệp dữ, thì vào ngục A Tỳ, chịu khổ vô cùng trong vô lượng kiếp; nếu từng mỗi căn tạo ra và nghiệp dữ đã làm gồm cả cảnh và căn thì người ấy vào 8 đại địa ngục. Nếu cả thân, khẩu, ý làm việc sát, đạo, dâm, thì người ấy vào 18 địa ngục; không đủ cả ba nghiệp thân, khẩu, ý, làm việc sát, đạo, dâm, thì người ấy vào 36 địa ngục; không đủ cả ba nghiệp thân, khẩu, ý, hoặc trong ấy chỉ làm một việc sát, hoặc một việc đạo,… thì người ấy cũng vào trong 36 điạ ngục; chỉ có một căn, riêng làm một việc, thì người ấy vào 108 địa ngục. Do những chúng sanh ấy riêng gây ra nghiệp, nên vào chỗ đồng phận trong giới ấy; đó đều do vọng tưởng phát sanh ra, không phải bản lai tự có. Lại nữa, A Nan, các chúng sanh đó, nếu không phải gây tội chê phá luật nghi, phạm Bồ tát giới, hủy báng Niết bàn của Phật, mà chỉ phạm những nghiệp phức tạp khác nhau, thì sau khi bị đốt cháy nhiều kiếp, đền tội hết rồi, thì chịu những hình quỷ. Nếu nơi bản nhân, do tham vật mà làm ra tội, thì người ấy đền tội hết rồi, gặp vật thành hình gọi là Quái quỷ. Do tham sắc mà làm ra tội, thì người ấy đền tội hết rồi, gặp gió thành hình, gọi là Bạt quỷ. Do tham dối trá mà làm ra tội, thì người ấy đền tội hết rồi, gặp giống súc thành hình, gọi là Mỵ quỷ. Do tham nóng giận mà làm ra tội, thì người ấy đền tội hết rồi, gặp con sâu thành hình, gọi là Cổ độc quỷ. Do tham thù oán mà làm ra tội, thì người ấy đền tội hết rồi, gặp vận suy kẻ thù mà thành hình, gọi là Lệ quỷ. Do tham ngã mạn mà làm ra tội, thì người ấy đền tội hết rồi, gặp khí thành hình, gọi là Ngạ quỷ. Do tham lừa gạt mà làm ra tội, thì người ấy đền tội hết rồi, gặp u ẩn thành hình, gọi là Áp quỷ. Do tham ác kiến mà làm ra tội, thì người ấy đền tội hết rồi, gặp tinh hoa thành hình, gọi là Vọng lượng quỷ. Do tham vu vạ mà làm ra tội, thì người ấy đền tội hết rồi, gặp linh hiển thành hình, gọi là Dịch sử quỷ. Do tham bè phái che giấu mà làm ra tội, thì người ấy đền tội hết rồi, gặp con người thành hình, gọi là Truyền tống quỷ. A Nan, những người đó đều vì thuần tình phải đọa lạc, khi lửa nghiệp đốt sạch rồi, thì lên làm quỷ; như thế đều do cái nghiệp vọng tưởng tự mình chuốc lấy; nếu ngộ được tánh Bồ đề, thì nơi tánh Diệu viên minh, vốn không có gì. Lại nữa, A Nan, khi nghiệp quỷ đã hết, tình và tưởng cả hai đều thành không, thì mới ở nơi thế gian, cùng với người mắc nợ cũ, oán đối gặp nhau; thân làm súc sanh để trả nợ cũ. Quái quỷ theo vật, vật tiêu báo hết, sanh nơi thế gian, phần nhiều làm loài chim kiêu. Bạt quỷ theo gió, gió tiêu báo hết, sanh nơi thế gian, phần nhiều làm tất cả những loài cữu trưng kỳ dị. Mỵ quỷ theo súc, súc chết báo hết, sanh nơi thế gian, phần nhiều làm loài hồ. Cổ quỷ theo sâu, sâu diệt báo hết, sanh nơi thế gian, phần nhiều làm loài có độc. Lệ quỷ theo vận suy, suy tột báo hết, sanh nơi thế gian, phần nhiều làm loài giun. Ngạ quỷ theo khí, khí tiêu báo hết, sanh nơi thế gian, phần nhiều làm loài cung cấp thịt ăn. Áp quỷ theo u ẩn, u ẩn tiêu báo hết, sanh nơi thế gian, phần nhiều làm loài cung cấp đồ mặc. Vọng lượng quỷ theo tinh hoa, tinh hoa tiêu báo hết, sanh nơi thế gian, phần nhiều làm các loài chim mùa. Dịch sử quỷ theo sự linh hiển, linh hiển diệt báo hết, sanh nơi thế gian, phần nhiều làm tất cả các loài hưu trưng. Truyền tống quỷ theo người, người chết báo hết, sanh nơi thế gian, phần nhiều làm các loài quấn quít bên người. A Nan, bọn ấy đều do lửa nghiệp đốt xong, sanh ra loài súc, trả hết nợ cũ; như thế, đều do những nghiệp hư vọng của tự mình chuốc lấy; nếu ngộ được tánh Bồ đề, thì các vọng duyên đó vốn không có gì. Như lời ông nói, bọn Bảo Liên Hương, Lưu Ly Vương, Thiện Tinh Tỳ kheo đều vốn tự mình gây ra nghiệp dữ; nghiệp ấy không phải từ trên trời sa xuống, từ dưới đất phát ra và cũng không phải do người khác đưa tới, mà chính do vọng tưởng của tự mình gây ra, rồi tự mình phải chịu quả báo; nơi tâm Bồ đề, đó chỉ là sự kết đông của vọng tưởng giả dối. Lại nửa, A Nan, các súc sanh ấy đền trả nợ trước, nếu trong lúc trả nợ, trả quá nợ cũ, thì những chúng sanh ấy, trở lại làm người, đòi lại chỗ thừa. Nếu bên kia có sức, lại có cả phúc đức, thì ở trong loài người, không rời bỏ thân người, mà hoàn lại chỗ thừa đó; còn nếu không phúc đức, thì phải làm súc sanh đền lại chỗ thừa. A Nan, nên biết, nếu dùng tiền của hoặc sức người ta, thì đền đủ là xong; còn như trong ấy, có giết thân mạng, hoặc ăn thịt kẻ khác, như thế, thì đi đến ăn nhau, giết nhau, trải qua nhiều kiếp, số như vi trần, cũng như bánh xe xoay vần, thay đổi bên cao, bên thấp, không có dừng nghĩ; trừ khi được phép Xa ma tha, hoặc gặp Phật ra đời, thì không thể thôi được. Nay ông nên biết loài chim kiêu kia, trả nợ đủ, trở lại hình người, sanh trong nhân đạo, tham hợp hạng ngoan cố. Giống cữu trưng kia, trả nợ đủ, trở lại hình người, sanh trong nhân đạo, tham hợp hạng quái dị. Những loài hồ kia, trả nợ đủ, trở lại hình người, sanh trong nhân đạo, tham hợp hạng ngu dại. Những loài có độc kia, trả nợ đủ, trở lại hình người, sanh trong nhân đạo, tham hợp hạng nham hiểm. Những loài giun kia, trả nợ đủ, trở lại hình người, sanh trong nhân đạo, tham hợp hạng hèn nhát. Những loài cung cấp thịt ăn kia, trả nợ đủ, trở lại hình người, sanh trong nhân đạo, tham hợp hạng nhu nhược. Những loài cung cấp đồ mặc kia, trả nợ đủ, trở lại hình người, sanh trong nhân đạo, tham hợp hạng lao lụy. Những loài chim mùa kia, trả nợ đủ, trở lại hình người, sanh trong nhân đạo, tham hợp hạng văn hoa. Những loài hưu trưng kia, trả nợ đủ, trở lại hình người, sanh trong nhân đạo, tham hợp hạng thông minh. Những loài quấn quít theo người kia, trả nợ đủ, trở lại hình người, sanh trong nhân đạo, tham hợp hạng thông đạt. A Nan, bọn ấy trả hết nợ cũ, trở lại hình người, đều do từ vô thủy đến nay, điên đảo gây nghiệp, vay trả thừa thiếu, sanh nhau, giết nhau; nếu không gặp Như Lai, không nghe Chánh pháp, thì ở trong trần lao, máy móc xoay vần mãi mãi; bọn ấy gọi là thật đáng thương xót. A Nan, lại có chúng sanh từ loài người, không nương theo Chánh giác tu phép Tam ma địa, lại riêng tu theo vọng niệm, để tâm củng cố hình hài, vào trong rừng núi, những chỗ người ta không đến được, thành mười thứ Tiên. A Nan, các chúng sanh kia, kiên cố dùng đồ bổ mà không dừng nghỉ, khi đạo ăn được thành tựu, thì gọi là Địa hành tiên. Kiên cố dùng cỏ cây mà không dừng nghỉ, khi đạo thuốc được thành tựu, thì gọi là Phi hành tiên. Kiên cố dùng kim thạch mà không dừng nghỉ, khi đạo hóa chất được thành tựu, thì gọi là Du hành tiên. Kiên cố làm những động tác mà không dừng nghỉ, khi khí tinh được thành tựu, thì gọi là Không hành tiên. Kiên cố luyện nước bọt mà không dừng nghỉ, khi nhuận đức được thành tựu, thì gọi là Thiên hành tiên. Kiên cố hấp thụ tinh hoa mà không dừng nghỉ, khi hấp thụ được thành tựu, thì gọi là Thông hành tiên. Kiên cố làm thuật phù chú mà không ngừng nghỉ, khi thuật pháp được thành tựu, thì gọi là Đạo hành tiên. Kiên cố chuyên chú tâm niệm mà không dừng nghỉ, khi chuyên niệm được thành tựu, thì gọi là Chiếu hành tiên. Kiên cố về thủy hỏa giao cấu mà không dừng nghỉ, khi cảm ứng được thành tựu, thì gọi là Tinh hành tiên. Kiên cố tập luyện biến hóa mà không dừng nghỉ, khi Giác ngộ được thành tựu, thì gọi là Tuyệt hành tiên. A Nan, bọn ấy đều ở trong loài người mà luyện tâm, tuy không tu Chánh giác, nhưng riêng được lẽ sống, thọ ngàn vạn tuổi, nghỉ ở trong núi sâu hoặc trên đảo giữa bể cả, cách tuyệt chỗ người ở; đó cũng là vọng tưởng luân hồi lưu chuyển. Nếu không tu phép Tam ma địa, thì khi quả báo hết rồi, trở lại tản vào trong lục đạo. A Nan, các người thế gian, không cầu đạo thường trụ, chưa có thể rời bỏ được sự ân ái với vợ mình, nhưng tâm không buông lung trong việc tà dâm, do tâm đứng lặng sanh ra sáng suốt, sau khi mệnh chung ở gần với mặt trời, mặt trăng; một loài như thế, gọi là Tứ Thiên Vương thiên. Đối với vợ mình, dâm ái ít ỏi, trong lúc tịnh cư, không được toàn vị, thì sau khi mệnh chung, vượt ánh sáng mặt trời, mặt trăng, ở trên chóp nhân gian; một loài như thế, gọi là Đao Lợi thiên. Gặp cảnh dục tạm theo, bỏ đi không nhớ nghĩ, ở trong nhân gian, động ít, tĩnh nhiều, thì sau khi mệnh chung, sáng rỡ ở yên trong cõi hư không, ánh sáng mặt trời, mặt trăng không soi đến được; và những người ấy tự mình có ánh sáng; một loài như thế, gọi là Tu Diệm Ma thiên. Lúc nào cũng tĩnh, nhưng khi có cảm xúc đến bên mình, chưa chống đối được, thì sau khi mệnh chung, lên trên chỗ tinh vi, không tiếp với những cảnh nhân thiên cõi dưới, cho đến gặp hoại kiếp, tam tai cũng không đến nơi; một loài như thế, gọi là Đâu Suất Đà thiên. Chính mình không có tâm dâm dục, chỉ đáp ứng với người khác mà làm, trong lúc phô bày, vô vị như ăn sáp, thì sau khi mệnh chung, vượt lên sanh vào cảnh biến hóa; một loài như thế, gọi là Lạc Biến Hóa thiên. Không có tâm thế gian, chỉ đồng với thế gian mà làm việc ngũ dục; trong lúc làm việc ấy, rõ ràng là siêu thoát, thì sau khi mệnh chung, vượt trên tất cả những cảnh biến hóa và không biến hóa; một loài như thế, gọi là Tha Hóa Tự Tại thiên. A Nan, sáu cõi trời như thế, hình thức tuy khỏi động, nhưng tâm tánh còn dính dấp; từ các cõi ấy trở xuống, gọi là Dục Giới. NAM MÔ LĂNG NGHIÊM HỘI THƯỢNG PHẬT BỒ TÁT MA HA TÁT Quyển 9: A Nan, tất cả những người tu tâm trong thế gian, không nhờ Thiền na, thì không có trí huệ. Người nào giữ được cái thân không làm việc dâm dục, trong lúc đi, lúc ngồi, đều không nghĩ nhớ, lòng ái nhiễm không sanh, không còn ở trong Dục Giới, thì bản thân liền được làm Phạm lữ; một loài như thế, gọi là Phạm Chúng thiên. Tập quán ngũ dục đã trừ rồi, tâm ly dục hiện ra, vui vẻ thuận theo các luật nghi, thì người đó liền có thể thực hành những Phạm đức; một loài như thế, gọi là Phạm Phụ thiên. Thân tâm hoàn toàn thanh tịnh, uy nghi không thiếu, cấm giới trong sạch, lại có thêm trí sáng, thì người đó liền được thống lĩnh Phạm chúng, làm Đại Phạm vương; một loài như thế, gọi là Đại Phạm thiên. A Nan, ba loài tốt đó, tất cả khổ não không bức bách được; tuy không phải chân chính tu phép Tam ma địa của đạo Phật, nhưng trong tâm thanh tịnh, những lầm lạc của Dục Giới không lay động được, nên gọi là Sơ Thiền. A Nan, thứ nữa, các hàng Phạm Thiên khi thống lĩnh phạm chúng, lại tu tập Phạm hạnh được viên mãn, làm cho tâm đứng lặng không lay động, và do sự đứng lặng ấy, sanh ra sáng suốt; một loài như thế, gọi là Thiểu Quang thiên. Hào quang sáng suốt thêm nhiều, chói sáng không cùng, ánh vào thập phương thế giới đều thành trong sáng như ngọc lưu ly; một loài như thế, gọi là Vô Lượng Quang thiên. Nắm giữ hào quang viên mãn, tạo thành giáo thể, phát ra sự giáo hóa thanh tịnh, ứng dụng không cùng; một loài như thế, gọi là Quang Âm thiên. A Nan, ba loài tốt ấy, tất cả lo buồn không bức bách được; tuy không phải chân chính tu hành phép Tam ma địa của đạo Phật, nhưng trong tâm thanh tịnh, những lầm lạc thô động đã dẹp xuống, nên gọi là Nhị Thiền. A Nan, những loài trời như thế, khi dùng hào quang viên mãn làm việc giáo hóa, do sự giáo hóa càng rõ lẽ nhiệm mầu, phát ra hạnh tinh tấn, thông với cái vui yên lặng; một loài như thế, gọi là Thiểu Tịnh thiên. Cảnh thanh tịnh hiện tiền, dẫn phát không có bờ bến, thân tâm được khinh an, thành cái vui yên lặng; một loài như thế, gọi là Vô Lượng Tịnh thiên. Thế giới và thân tâm, tất cả hoàn toàn thanh tịnh, đức thanh tịnh được thành tựu, cảnh giới thù thắng hiện tiền, dồn về vui yên lặng; một loài như thế, gọi là Biến Tịnh thiên. A Nan, ba loài tốt đó, đầy đủ công hạnh đại tùy thuận, thân tâm yên lặng, được cái vui vô lượng; tuy không phải chân chính được phép Tam ma địa của đạo Phật, nhưng trong tâm yên ẩn, hoan hỷ được đầy đủ, nên gọi là Tam Thiền. A Nan, lại nữa, những loài trời đó, thân tâm không bị bức bách, nguyên nhân của khổ đã hết, lại xét cái vui không phải thường trụ, lâu rồi cũng phải tiêu tan, nên cả hai tâm khổ và vui, đồng thời đều phóng xả; những tướng thô nặng đã diệt, thì phúc thanh tịnh sanh ra; một loài như thế, gọi là Phúc Sanh thiên. Tâm phóng xả được viên mãn, sự nhận hiểu cao xa càng thanh tịnh; trong cái phúc không gì trở ngại đó, được sự tùy thuận nhiệm mầu cùng tột vị lai; một loài như vậy, gọi là Phúc Ái thiên. A Nan, từ cõi trời đó, có hai đường rẽ: Nếu dùng cái tâm sáng suốt thanh tịnh vô lượng trước kia, mà tu chứng an trụ nơi phúc đức viên mãn sáng suốt, thì một loài như thế, gọi là Quảng Quả thiên. Nếu nơi cái tâm trước kia nhàm chán cả cái khổ và cái vui, lại nghiền ngẫm cái tâm phóng xả, tiếp tục không ngừng, đi đến cùng tột sự phóng xả, thân tâm đều diệt hết, ý nghĩ bặt mất, trải qua năm trăm kiếp; song, người ấy đã lấy cái sanh diệt làm nhân, thì không thể phát minh tánh không sanh diệt, nên nửa kiếp đầu thì diệt, nửa kiếp sau lại sanh; một loài như thế, gọi là Vô Tưởng thiên. A Nan, bốn loài tốt ấy, tất cả những cảnh khổ vui trong thế gian không lay động được; tuy không phải là chỗ bất động chân thật của đạo vô vi; song, nơi cái tâm hữu sở đắc, công dụng đã thuần thục, nên gọi là Tứ Thiền. A Nan, trong đó, lại có năm bậc Bất Hoàn thiên, các vị này đã diệt hết tập khí chín phẩm tư hoặc trong cõi dưới rồi, khổ vui không còn, bên dưới không có chỗ ở, nên an lập chỗ ở nơi chúng đồng phận của tâm phóng xả. A Nan, khổ vui cả hai đều diệt, không còn tâm niệm ưa ghét; một loài như thế, gọi là Vô Phiền thiên. Tự tại phóng xả, không còn năng xả, sở xả; một loài như thế, gọi là Vô Nhiệt thiên. Khéo thấy thế giới mười phương thảy đều đứng lặng, không còn tất cả những cấu nhiễm trầm trọng của trần cảnh; một loài như thế, gọi là Thiện Kiến thiên. Tri kiến thanh tịnh hiện tiền, sử dụng được không ngăn ngại; một loài như thế, gọi là Thiện Hiện thiên. Quán sát rốt ráo các cực vi, cùng tột tánh của sắc pháp, vào tánh không bờ bến; một loài như thế, gọi là Sắc Cứu Kính thiên. A Nan, những bậc Bất Hoàn thiên đó, chỉ riêng bốn vị Thiên vương Tứ Thiền được có kính nghe, nhưng không thể thấy biết; cũng như hiện nay, có các thánh đạo trường nơi rừng sâu đồng rộng thế gian, đều là những nơi trụ trì của các vị A la hán, nhưng những người thô thiển thế gian không thể thấy được. A Nan, mười tám loài trời đó, tâm thường ở trong định, không dính dáng với trần cảnh, song chưa hết cái lụy của hình hài; từ đó trở về, gọi là Sắc Giới. Lại nữa, A Nan, từ chỗ cao nhất của Sắc Giới, lại có hai đường rẽ: Nếu nơi tâm phóng xả, phát minh được trí huệ, trí huệ sáng suốt viên thông, thì ra khỏi cõi trần, thành vị A la hán, vào Bồ tát thừa; một loài như thế, gọi là Hồi tâm Đại A la hán. Nếu nơi tâm phóng xả, khi thành tựu được sự phóng xả rồi, lại cảm thấy cái thân làm ngăn ngại và tiêu cái ngăn ngại ấy vào hư không, thì một loài như thế, gọi là Không xứ. Các chất ngại đã tiêu trừ rồi, nhưng không diệt được cái vô ngại, trong đó chỉ còn thức A lại gia và còn nguyên vẹn phần nửa vi tế của thức Mạt na; một loài như thế, gọi là Thức xứ. Sắc và không đã hết, cái tâm biết là hết ấy cũng diệt trừ, mười phương vẳng lặng, không còn gì nữa; một loài như thế, gọi là Vô Sở Hữu xứ. Thức tánh vốn không lay động, lại dùng cái diệt mà diệt đến cùng; trong chỗ không thể hết, phát minh nhận cho là hết, nên hình như còn, mà không phải còn, hình như hết, mà không phải hết; một loài như thế, gọi là Phi Tưởng Phi Phi Tưởng xứ. Bọn nầy xét cùng cái không, nhưng không tột lý không; nếu từ thánh đạo cõi trời Bất Hoàn mà xét cùng, thì một loài như thế, gọi là Bất hồi tâm độn A la hán. Nếu từ cõi trời vô tưởng và ngoại đạo mà xét cùng cái không, không biết trở về, mê lầm không nghe Chánh pháp, thì sẽ vào trong luân hồi. A Nan, trên các cõi trời đó, mỗi mỗi đều là những phàm phu hưởng sự báo đáp của nghiệp quả và khi sự báo đáp ấy hết rồi, thì trở vào trong luân hồi. Thiên vương các cõi kia, thường là Bồ tát, dùng Tam ma địa mà lần lượt tiến lên, hồi hướng về đường tu hành đạo Phật. A Nan, những cõi trời tứ không đó, thân tâm diệt hết, định tánh hiện tiền, không có sắc pháp của nghiệp quả; từ đó đến cuối cùng, gọi là Vô Sắc Giới. Bọn đó, đều do không rõ Diệu giác minh tâm, chứa nhóm cái vọng, mà giả dối phát sanh ra ba cõi, giả dối theo bảy loài trong đó, mà chìm đắm và cá thể thụ sanh cũng theo từng loài. Lại nữa, A Nan, trong ba cõi ấy, còn có bốn giống A tu la. Nếu từ loài quỷ, do sức bảo hộ Chánh pháp, được thần thông vào hư không, thì giống A tu la này, từ trứng sanh ra, thuộc về loài quỷ. Nếu từ cõi trời, đức kém phải sa đọa, chỗ ở gần với mặt trời, mặt trăng, thì giống A tu la đó, từ thai sanh ra, thuộc về loài người. Có chúa A tu la, nắm giữ thế giới, sức mạnh đến chỗ không phải sợ ai, có thể tranh quyền với Phạm vương, Đế Thích và Tứ Thiên vương; giống A tu la này, nhân biến hóa mà có, thuộc về loài trời. A Nan, riêng có một số A tu la thấp kém, sanh trong lòng biển lớn, lặn trong thủy huyệt, ban ngày đi chơi trên hư không, tối về ngủ dưới nước; giống A tu la này, nhân thấp khí sanh ra, thuộc về loài súc sanh. A Nan, xét rõ bảy loài địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, người và thần tiên, trời và A tu la như thế, đều là những tướng hữu vi tối tăm, giả dối tưởng tượng thụ sanh, giả dối tưởng tượng theo nghiệp; đối với tâm tánh Diệu viên minh, bản lai không năng tác, sở tác, thì đều như hoa đốm giữa hư không, vốn không dính dáng; chỉ một cái hư vọng, chứ không có cỗi gối manh mối gì. A Nan, những chúng sanh đó, không nhận được tâm tánh bản lai, chịu cái luân hồi như thế trong vô lượng kiếp, mà không chứng được chân tánh thanh tịnh, đó đều do chúng thuận theo những sát, đạo, dâm, hoặc ngược lại ba cái đó, thì lại sanh ra không sát, không đạo, không dâm; có, thì gọi là loài quỷ, không, thì gọi là loài trời; có và không thay nhau, phát khởi ra tánh luân hồi. Nếu khéo tu tập phát huy phép Tam ma địa, thì trong bản tánh thường diệu, thường tịch, cả hai cái có, cái không đều không và cái không có, không không cũng diệt, còn không có gì là bất sát, bất đạo, bất dâm, làm sao lại còn thuận theo được những việc sát, đạo, dâm. A Nan, không đoạn được ba nghiệp, thì mỗi mỗi chúng sanh đều có phần riêng, nhân những cái riêng ấy, mà quả báo đồng phận chung của các cái riêng, không phải là không chỗ nhất định; đó là do vọng kiến của tự mình phát sanh ra; hư vọng phát sanh vốn không có nhân, không thể tìm xét nguồn gốc được. Ông khuyên người tu hành, muốn được đạo Bồ đề, cốt yếu phải trừ tam hoặc; tam hoặc không hết, thì dầu được thần thông, cũng đều là những công dụng hữu vi của thế gian; tập khí mê lầm đã không diệt, thì lạc vào đường ma; tuy muốn trừ cái vọng, nhưng lại càng thêm giả dối; Như Lai bảo là rất đáng thương xót. Như thế, đều do vọng kiến tự mình tạo ra, không phải là lỗi của tánh Bồ đề. Nói như thế ấy, tức là lời nói chân chính; nếu nói khác thế, tức là lời nói của Ma vương. Khi bấy giờ, đức Như Lai gần chấm dứt thời thuyết pháp, ở nơi sư tử tọa, vin ghế thất bảo, xoay về Tử Kim sơn, trở lại dựa nơi ghế, bảo khắp đại chúng và ông A Nan rằng: Bọn ông là hàng Duyên giác, Thanh văn Hữu học, ngày nay, đã hồi tâm hướng về vô thượng diệu giác đạo Đại Bồ đề, và tôi cũng đã chỉ dạy phép tu chân chính; nhưng các ông còn chưa biết những ma sự nhỏ nhiệm trong lúc tu chỉ, tu quán. Nếu cảnh ma hiện ra, ông không biết được, thì sẽ tu tâm không đúng và mắc vào tà kiến; hoặc bị ma Ngũ ấm của ông, hoặc bị Thiên ma, hoặc mắc quỷ thần, hoặc gặp lỵ mỵ, mà trong tâm không rõ, nhận giặc làm con. Lại nữa, có khi được một ít đã cho là đủ, như Vô Văn Tỳ kheo được Tứ Thiền, nói ma là chứng bậc thánh; đến khi quả báo chư thiên hết rồi, suy tướng hiện ra, thì phỉ báng quả A la hán còn phải thụ sanh, nên đọa vào ngục A Tỳ. Các ông hãy nghe cho kỹ, nay tôi vì ông mà phân biệt chín chắn. Ông A Nan đứng dậy, với các hàng Hữu học trong hội, vui mừng đỉnh lễ, kính nghe Phật từ bi dạy bảo. Phật bảo ông A Nan và cả đại chúng: Các ông nên biết, mười hai loài chúng sanh trong thế giới hữu lậu, tâm thể giác viên bản giác diệu minh, cùng thập phương chư Phật, không hai không khác. Do vọng tưởng, các ông mê chân lý thành ra lỗi lầm. Si ái phát sanh, sanh mê cùng khắp, nên có hư không; hóa mãi cái mê không thôi, nên có thế giới sanh ra; các cõi nước số như vi trần ở mười phương, trừ cõi vô lậu, đều do vọng tưởng mê lầm kiến lập. Nên biết, hư không sanh trong tâm ông, cũng như chút mây điểm trên vùng trời, huống nữa là các thế giới ở trong hư không. Một người các ông phát minh chân lý, trở về bản tánh, thì hư không thập phương đó thảy đều tiêu mất, làm sao, các cõi nước hiện có trong hư không ấy, lại không rung động. Các ông tu thiền định, trau dồi phép Tam ma địa, tâm được thông suốt, ám hợp với các vị Bồ tát và các vị vô lậu Đại A la hán mười phương, thật sự vắng lặng, thì tất cả Ma vương, quỷ thần và loài trời, phàm phu, đều thấy cung điện mình không cớ gì đổ vỡ, đất liền rung động, các loài thủy lục bay nhảy, thảy đều kinh sợ. Phàm phu tối tăm, không rõ nên nghĩ lầm; còn bọn kia đều được năm thứ thần thông, trừ lậu tận thông, đương luyến tiếc cảnh trần lao, làm sao, lại để cho ông phá hoại chỗ ở? Vậy nên các loài quỷ thần, Thiên ma, vọng lượng, yêu tinh, trong lúc ông tu phép Tam ma địa, đều đến quấy phá. Song các ma kia, tuy có giận dữ, nhưng bọn chúng ở trong trần lao, các ông ở trong diệu giác, thì cũng như gió thổi ánh sáng, như dao chém nước, hẳn không đụng chạm nhau được; ông như nước sôi, bọn kia như giá cứng, tạm gần hơi ấm, thì không bao lâu sẽ tiêu tan. Chúng nó luống ỷ thần lực, nhưng chỉ làm người khách; nếu chúng có thể phá rối được, là do người chủ Ngũ ấm trong tâm ông, nếu người chủ mê lầm, thì khách được dịp khuấy phá. Đương lúc tu thiền, Giác ngộ không lầm, thì các ma sự kia không làm gì ông được. Khi năm ấm đã tiêu trừ, vào tánh sáng suốt, thì bọn tà ma kia là kẻ tối tăm, sáng phá được tối, đến gần tự phải tiêu mất, làm sao còn dám ở lại khuấy phá thiền định. Nếu không tỏ ngộ, bị Ngũ ấm làm cho mê lầm, thời chính ông là A Nan, lại phải làm con của ma và thành người ma. Như nàng Ma Đăng Già, sức còn hèn kém, chỉ dùng chú thuật, bắt ông phá luật nghi của Phật; trong tám muông hạnh chỉ phá một giới; nhưng vì tâm ông thanh tịnh, nên vẫn chưa bị chìm đắm. Bọn ma nầy, thì phá hoại toàn thân bảo giác của ông, như nhà quan tể thần, bỗng nhiên bị tước hết, tịch hết, linh đinh quanh lộn, không thể thương cứu. A Nan nên biết, ông ngồi đạo trường, tiêu diệt các niệm, niệm đó nếu hết, thì tâm ly niệm sáng tỏ tất cả, động tĩnh không rời, nhớ quên như một. Đương khi an trụ nơi chỗ đó mà vào Tam ma địa, thì như người tỏ mắt ở chỗ rất tối tăm, tánh biết được diệu tịnh, nhưng tâm chưa phát ra trí sáng suốt; thế thì gọi là phạm vi của Sắc ấm. Nếu con mắt sáng tỏ, mười phương rộng mở, không còn tối tăm nữa, thì gọi là hết Sắc ấm; người đó mới có thể vượt khỏi kiếp trược, xét lại nguyên do, thì cỗi gốc là vọng tưởng kiên cố. A Nan, chính đương trong lúc chín xét tánh diệu minh, tứ đại không kết hợp, thì trong một thời gian ngắn, tâm có thể ra khỏi các ngăn ngại, ấy gọi là tinh minh trào ra tiền cảnh; đó chỉ do công dụng tạm được như thế, không phải là chứng bậc thánh; nếu không nhận là chứng ngộ, thì cũng gọi là cảnh giới tốt, nếu nghĩ là chứng bậc thánh, thì liền mắc các tà kiến. A Nan, lại đem cái tâm ấy chín xét tánh diệu minh, trong thân trở nên rỗng suốt, người đó bỗng nhiên, ở trong thân mình, nhặt ra các thứ giun sán mà cái thân vẫn y nguyên, không bị tổn thương; ấy gọi là tinh minh trào vào hình thể, chỉ do tu hành tinh tấn, tạm thấy được như vậy, không phải là chứng bậc thánh; nếu không nhận là chứng ngộ, thì cũng gọi là cảnh giới tốt, nếu nghĩ là chứng bậc thánh, thì liền mắc các tà kiến. Lại dùng cái tâm ấy, chín xét trong ngoài, khi đó Ý thức tư tưởng, ngoài bản thân ra, còn bén vào các nơi khác, đắp đổi làm khách, làm chủ; bỗng dưng ở giữa hư không, nghe tiếng thuyết pháp hoặc nghe mười phương đồng diển bày nghĩa thâm mật; ấy gọi là tinh thần đắp đổi khi ly, khi hợp; thành tựu được thiện chủng, thì tạm được như thế, không phải là chứng bậc thánh; không nhận là chứng ngộ, thì cũng gọi là cảnh giới tốt; nếu nghĩ là chứng bậc thánh, thì mắc các tà kiến. Lại dùng cái tâm ấy, đứng lặng hiện ra sáng suốt; tâm quang phát minh, khắp cả mười phương thành sắc Diêm Phù Đàn, tất cả các loài hóa làm Như Lai; lúc bấy giờ, bỗng thấy Phật Tỳ Lô Giá Na ngồi trên đài Thiên Quang, có ngàn Đức Phật vây quanh, trăm ức cõi nước cùng với hoa sen đồng một thời hiện ra; ấy gọi là Ý thức tiêm nhiễm sự linh ngộ, khi tâm quang phát minh, soi các thế giới, thì tạm được như thế, không phải là chứng bậc thánh; không nhận là chứng ngộ, thì cũng gọi là cảnh giới tốt, nếu nghĩ là chứng bậc thánh, thì mắc các tà kiến. Lại dùng cái tâm ấy, chín xét tánh diệu minh, quan sát không ngừng, đè nén, uốn dẹp, dứt trừ thái quá; lúc bấy giờ, bỗng nhiên mười phương hư không thành sắc thất bảo, hoặc sắc bách bảo, đồng thời cùng khắp, không ngăn ngại lẫn nhau; những sắc xanh, vàng, đỏ, trắng, mỗi mỗi thuần hiện ra, ấy gọi là công sức đè nén quá phần, tạm được như thế, không phải là chứng bậc thánh; không nhận là chứng ngộ, thì cũng gọi là cảnh giới tốt, nếu nghĩ là chứng bậc thánh, thì mắc các tà kiến. Lại dùng cái tâm ấy, lặng suốt chín xét, trong sáng không tán loạn; bỗng ở giữa đêm, thấy các thứ vật trong nhà tối, chẳng khác gì ban ngày, mà những vật trong nhà tối đó cũng không diệt mất; ấy gọi là định tâm lặng đứng cái thấy, nên thấy suốt chỗ tối tăm, tạm được như thế, không phải là chứng bậc thánh; không nhận là chứng ngộ, thì cũng gọi là cảnh giới tốt; nếu nghĩ là chứng bậc thánh, thì mắc các tà kiến. Lại dùng cái tâm ấy, khắp vào tánh hư dung, bốn vóc bỗng đồng như cỏ, như cây, lửa đốt, dao cắt toàn không hay biết, khi thì ngọn lửa không thể đốt cháy, dù cắt thịt cũng như chẻ cây; ấy gọi là năm trần đều tiêu; khi bài xích tánh tứ đại, một mặt vào chỗ thuần nhất, tạm được như thế, không phải là chứng bậc thánh; không nhận là chứng ngộ, thì cũng gọi là cảnh giới tốt; nếu nghĩ là chứng bậc thánh, thì mắc các tà kiến. Lại dùng cái tâm ấy, thành tựu tánh thanh tịnh, công dụng tột bậc, bỗng thấy mười phương núi sông, đất liền đều thành cõi Phật, đủ bảy thứ báu chói sáng cùng khắp; lại thấy chư Phật Như Lai, như số cát sông Hằng, đầy khắp cõi hư không, lâu đài hoa lệ; dưới thấy địa ngục, trên xem thiên cung, không còn ngăn ngại; ấy gọi là tư tưởng ưa chán chứa nhóm ngày một sâu, lâu lắm hóa thành như thế, không phải là chứng bậc thánh; không nhận là chứng ngộ, thì cũng gọi là cảnh giới tốt; nếu nghĩ là chứng bậc thánh, thì mắc các tà kiến. Lại dùng cái tâm ấy, nghiên cứu sâu xa, bỗng ở giữa đêm, thấy rõ chợ búa, làng mạc, bà con quyến thuộc phương xa, hoặc nghe lời nói; ấy gọi là nén ép cái tâm tột bậc nên nó bay ra, thấy được chỗ xa cách, không phải là chứng bậc thánh; không nhận là chứng ngộ, thì cũng gọi là cảnh giới tốt; nếu nghĩ là chứng bậc thánh, thì mắc các tà kiến. Lại dùng cái tâm ấy, nghiên cứu cùng tột, thấy vị thiện tri thức, rồi hình thể biến đổi, không duyên cớ gì, trong giây lát có nhiều thứ thay đổi; ấy gọi là tà tâm; bị loài lỵ mỵ hoặc mắc Thiên ma vào trong tâm thức, không duyên cớ gì lại biết thuyết pháp, thông suốt các diệu nghĩa, không phải là chứng bậc thánh; không nhận là chứng ngộ thì ma sự tự tiêu diệt; nếu nghĩ là chứng bậc thánh, thì mắc các tà kiến. A Nan, mười thứ cảnh hiện ra trong thiền định như thế, đều do Sắc ấm và tâm công dụng giao xen, nên hiện những việc đó; chúng sanh ngu mê, không biết suy xét tự lượng, gặp nhân duyên ấy, mê không tự biết, bảo là lên bậc thánh, thành tội đại vọng ngữ, phải đọa vào ngục Vô Gián. Sau khi Như Lai diệt độ rồi, các ông nên nương theo lời dạy, khai thị nghĩa nầy trong đời mạt pháp, không để Thiên ma được dịp khuấy phá; giữ gìn che chở cho chúng sanh thành đạo vô thượng. A Nan, Thiện nam tử kia tu phép Tam ma địa, trong Xa ma tha, khi Sắc ấm hết rồi, thì thấy tâm chư Phật như cái bóng hiện ra trong gương sáng, hình như có được, nhưng chưa có thể dùng; cũng như người bị bóng mộc đè, tay chân y nguyên, thấy nghe không sai, nhưng tâm bị khách tà, không cử động được; thế thì gọi là phạm vi của Thọ ấm. Nếu bóng mộc hết đè, thì cái tâm rời khỏi thân, trở lại xem được cái mặt, đi ở tự do, không còn ngăn ngại; thế gọi là hết Thọ ấm; người đó mới có thể vượt khỏi kiến trược, xét lại nguyên do, thì cỗi gốc là vọng tưởng hư minh. A Nan, Thiện nam tử kia, đương ở trong đó, được rất sáng suốt, cái tâm phát sanh đè nén quá phận, bỗng ở nơi đó phát ra lòng bi vô cùng, như thế cho đến xem thấy muỗi mòng như là con đỏ, tâm sanh thương xót, nước mắt tự chảy ra; ấy gọi là công dụng đè nén quá mức; ngộ thì không có lỗi, không phải là chứng bậc thánh; Giác ngộ không mê nữa, lâu tự tiêu hết. Nếu nhận là chứng bậc thánh, thì có giống ma sầu bi vào trong tim gan, thấy người thì đau xót, kêu khóc vô hạn; sai mất chính thụ, sẽ bị chìm đắm. A Nan, lại các Thiện nam tử trong định kia, thấy Sắc ấm tiêu rồi, Thọ ấm tỏ rõ, cảnh tốt hiện ra trước, cảm khích quá phần, bỗng ở trong đó, sanh lòng dũng mãnh vô hạn; cái tâm mạnh mẽ, chí bằng chư Phật, bảo ba tăng kỳ, một niệm có thể vượt khỏi. Ấy gọi là công dụng lấn lướt quá mức; ngộ thì không có lỗi, không phải là chứng bậc thánh; Giác ngộ không mê nữa, thì lâu tự tiêu hết. Nếu nhận là chứng bậc thánh, thì có giống ma ngông cuồng vào trong tim gan, thấy người thì khoe, ngã mạn không ai sánh được; tâm người ấy, cho đến, trên không thấy Phật, dưới không thấy người; sai mất chính thụ, sẽ bị chìm đắm. Lại các Thiện nam tử trong định kia, thấy Sắc ấm tiêu rồi, Thọ ấm tỏ rõ; trước không có chỗ chứng mới, lui về thì mất chỗ cũ, trí lực suy kém, vào trung hủy địa, hẳn không thấy gì; trong tâm bỗng sanh lòng rất khô khát; trong tất cả thời thầm nhớ không thôi, rồi cho như thế là tướng tinh tấn. Ấy gọi là tu hành không trí huệ, tự sanh lầm lạc; ngộ thì không có lỗi, không phải là chứng bậc thánh. Nếu nhận là chứng bậc thánh, thì có giống ma nhớ vào trong tim gan, ngày đêm như nắm cái tâm treo vào một nơi; sai mất chính thụ, sẽ bị chìm đắm. Lại các Thiện nam tử trong định kia, thấy Sắc ấm tiêu rồi, Thọ ấm tỏ rõ, sức huệ quá định, bị cái lỗi quá mạnh mẽ sắc bén; đem cái thắng tánh ôm vào trong tâm, tự ngờ mình là Phật Lô Xá Na, được một ít đã cho là đủ. Ấy gọi là chỗ dụng tâm quên mất suy xét, nên đắm vào nơi tri kiến, ngộ thì không có lỗi, không phải là chứng bậc thánh. Nếu nhận là chứng bậc thánh, thì có giống ma hèn kém dễ biết đủ vào trong tim gan, thấy người thì tự xưng đã được vô thượng đệ nhất nghĩa đế, sai mất chính thụ, sẽ bị chìm đắm. Lại các Thiện nam tử trong định kia, thấy Sắc ấm tiêu rồi, Thọ ấm tỏ rõ, chỗ chứng mới chưa được, còn tâm cũ đã mất, soi cả hai bên, tự cho là nguy hiểm; trong tâm bổng nhiên sanh ra lòng lo vô tận, như ngồi giường sắt, như uống thuốc độc, tâm không muốn sống, thường cầu người khác hại thân mệnh mình để sớm được giải thoát. Ấy gọi là tu hành sai mất phương tiện; ngộ thì không có lỗi, không phải là chứng bậc thánh. Nếu nhận chứng bậc thánh, thì có một phần giống ma thường lo rầu vào trong tim gan, tay cầm dao gươm tự cắt thịt mình, thích được bỏ mạng, hoặc thường lo rầu, chạy vào trong rừng núi, không thích thấy người ta, sai mất chính thụ, sẽ bị chìm đắm. Lại các Thiện nam tử trong định kia, thấy Sắc ấm tiêu rồi, Thọ ấm tỏ rõ, trong chỗ thanh tịnh, tâm được yên ổn, bỗng có cái mừng vô hạn sanh ra, trong tâm mừng rỡ, không thể tự ngăn. Ấy gọi là lòng khinh an, không có trí huệ tự ngăn mình; ngộ thì không có lỗi, không phải là chứng bậc thánh. Nếu nhận là chứng bậc thánh, thì có một phần giống ma thích vui mừng vào trong tim gan, thấy người thì cười, ở bên đường cái, tự ca tự múa, tự bảo đã được vô ngại giải thoát; sai mất chính thụ, sẽ bị chìm đắm. Lại các Thiện nam tử trong định kia, thấy Sắc ấm tiêu rồi, Thọ ấm tỏ rõ, tự bảo là đã đủ rồi; không căn cứ gì, bỗng có lòng đại ngã mạn phát ra, như thế cho đến lòng mạn, quá mạn và mạn quá mạn, hoặc lòng tăng thượng mạn, hoặc lòng ty liệt mạn, một thời đều phát ra; trong tâm còn khinh thập phương Như Lai, huống nữa là các bậc dưới như Thanh văn, Duyên giác. Ấy gọi là thắng giải quá cao, không trí huệ để tự cứu; ngộ thì không có lỗi, không phải là chứng bậc thánh. Nếu nhận là chứng bậc thánh, thì có một phần giống ma đại ngã mạn vào trong tim gan, không lễ chùa tháp, phá hỏng kinh tượng, bảo đàn việt rằng: Đó là đồ kim đồng hoặc đồ thổ mộc, kinh là lá cây, hoặc là giấy lụa; xác thịt chân thường, không tự cung kính, lại sùng bái đồ thổ mộc, thật là trái ngược. Những người quá tin, theo lời dạy phá phách, chôn bỏ trong đất, do gây nghi ngờ lầm lạc cho chúng sanh, phải đọa vào ngục Vô Gián; sai mất chính thụ, sẽ bị chìm đắm. Lại các Thiện nam tử trong định kia, thấy Sắc ấm tiêu rồi, Thọ ấm tỏ rõ; trong chỗ tinh minh, viên ngộ được tinh lý, được phép đại tùy thuận; tâm bỗng sanh ra lòng khinh an không lường, bảo mình đã thành bậc thánh, được đại tự tại. Ấy gọi là nhân trí huệ được các sự khinh thanh; ngộ thì không có lỗi, không phải là chứng bậc thánh. Nếu nhận là chứng bậc thánh, thì có một phần giống ma thích khinh thanh vào trong tim gan, tự bảo đã đầy đủ, không cầu tiến lên nữa; bọn đó phần nhiều làm như Vô Văn Tỳ kheo, gây nghi ngờ lầm lạc cho chúng sanh, rồi đọa vào ngục A Tỳ; sai mất chính thụ, sẽ bị chìm đắm. Lại các Thiện nam tử trong định kia, thấy Sắc ấm tiêu rồi, Thọ ấm tỏ rõ; trong chỗ tỏ ngộ, được tánh hư minh; lúc ấy bỗng xoay lại hướng theo tánh đoạn diệt, bác không nhân quả, một mực vào rỗng không; tâm rỗng không hiện tiền, cho đến phát sanh nhận định là đoạn diệt mãi mãi. Ngộ thì không có lỗi, không phải là chứng bậc thánh. Nếu nhận là chứng bậc thánh, thì có giống ma rỗng không vào trong tim gan, chê bai người giữ giới là Tiểu thừa, chứ Bồ tát đã ngộ được tánh không, thì có gì là trì với phạm. Người đó thường ở nhà đàn việt thiện tín, uống rược ăn thịt, làm nhiều điều dâm uế; nhân có sức ma, nhiếp phục người ta không sanh lòng nghi báng; tâm ma thâm nhập lâu ngày, hoặc ăn đại tiện tiểu tiện, cũng như ăn thịt uống rượu, vì tất cả đều không; phá luật nghi của Phật, làm cho người khác lầm lạc mắc tội; sai mất chính thụ, sẽ bị chìm đắm. Lại các Thiện nam tử trong định kia, thấy Sắc ấm tiêu rồi, Thọ ấm tỏ rõ, nghiền ngẫm cái hư minh, ghi sâu vào tim cốt, trong tâm bỗng có lòng yêu vô hạn sanh ra; yêu quá phát điên, bèn làm việc tham dục. Ấy gọi là cảnh định an thuận vào tâm, không trí huệ tự giữ mình, lầm vào ngũ dục; ngộ thì không có lỗi, không phải là chứng bậc thánh. Nếu nhận là chứng bậc thánh, thì có giống ma ngũ dục vào trong tim gan, một mặt bảo sự dâm dục là đạo Bồ đề, dạy các bạch y bình đẳng làm việc dâm dục, những người hành dâm gọi là trì pháp tử; do sức tà ma nhiếp phục kẻ phàm phu trong đời mạt pháp, số đến cả trăm, như thế cho đến một trăm, hai trăm, hoặc năm sáu trăm, nhiều đến ngàn vạn; khi ma sanh chán, rời bỏ thân thể, đã không còn uy đức, thì sa vào lưới pháp luật; do gây nghi ngờ lầm lạc cho chúng sanh, phải đọa vào ngục Vô Gián; sai mất chính thụ, sẽ bị chìm đắm. A Nan, mười thứ cảnh hiện ra trong thiền định như thế, đều do Thọ ấm và tâm công dụng giao xen, nên hiện như vậy; chúng sanh ngu mê không biết suy xét tự lượng, gặp nhân duyên ấy, mê không tự biết, bảo là lên bậc thánh, thành tội đại vọng ngữ, phải sa vào ngục Vô Gián. Sau khi tôi diệt độ rồi, các ông nên đem lời nói nầy của Như Lai, truyền dạy trong đời mạt pháp, khiến cho chúng sanh đều tỏ ngộ nghĩa đó, không để Thiên ma được dịp khuấy phá; giữ gìn che chở cho chúng sanh thành đạo vô thượng. A Nan, Thiện nam tử kia, tu pháp Tam ma địa, khi Thọ ấm hết rồi, tuy chưa hết mê lầm, nhưng tâm đã rời khỏi hình hài như chim ra khỏi lồng, điều ấy đã thành tựu được rồi. Từ phàm thân đó, tiến lên trải qua sáu mươi thánh vị Bồ tát, được ý sanh thân, tùy ý đi, ở, không còn ngăn ngại. Ví như có người ngủ say nói mơ, người ấy tuy không hay biết gì, nhưng lời nói đã có âm vận thứ tự, khiến người không ngủ đều hiểu biết được; ấy thì gọi là phạm vi của Tưởng ấm. Nếu biết động niệm, tư tưởng hư vọng tiêu trừ, thì nơi tâm giác minh, như bỏ hết bụi nhơ, một dòng sanh tử, đầu đuôi soi khắp, gọi là hết Tưởng ấm; người ấy mới có thể vượt khỏi phiền não trược, xét lại nguyên do, cỗi gốc là vọng tưởng dung thông. A Nan, Thiện nam tử kia, Thọ ấm đã hư diệu, không còn mắc các tà lự, tánh viên định phát minh, trong Tam ma địa, tâm lại ưa được viên minh, thúc giục tư tưởng, tham cầu những thiện xảo. Khi bấy giờ, Thiên ma chờ được dịp ấy, cho tinh thần gá vào người khác, miệng nói kinh pháp; người đó thật không biết bị ma gá vào, cũng tự bảo đã được Vô thượng Niết bàn; đến chỗ Thiện nam tử cầu thiện xảo kia, trải pháp tọa thuyết pháp. Thân hình người đó giây lát, hoặc làm Tỳ kheo cho người kia thấy, hoặc làm Đế Thích, hoặc làm phụ nữ, hoặc làm Tỳ kheo ni, hoặc nằm trong nhà tối, thân có hào quang chói sáng. Người tu hành ngu mê, lầm là Bồ tát, tin lời dạy bảo, lay chuyển cái tâm, phá luật nghi của Phật, lén làm việc tham dục. Miệng ma ưa nói những sự may rủi biến đổi, hoặc nói Như Lai ra đời ở chỗ Mỗ, hoặc nói có kiếp hỏa, hoặc nói có đao binh, khủng bố người ta, khiến cho gia tư không cớ gì phải hao mất. Ấy gọi là giống quái quỷ, tuổi già thành ma, khuấy rối người tu hành. Khi ma khuấy chán rồi, bỏ thân người, không gá nữa, thì đệ tử cùng thầy đều sa vào lưới pháp luật. Ông nên Giác ngộ trước, thì không vào luân hồi; nếu mê lầm không biết, thì đọa vào ngục Vô Gián. A Nan, lại Thiện nam tử kia, Thọ ấm đã hư diệu, không mắc các tà lự, tánh viên định phát minh; trong Tam ma địa, tâm lại ưa đi chơi, cho tư tưởng bay đi, tham cầu trải qua nhiều nơi. Khi bấy giờ, Thiên ma chờ được dịp ấy, cho tinh thần gá vào người khác, miệng nói kinh pháp; người đó thật không biết bị ma gá vào, cũng tự bảo đã được Vô thượng Niết bàn, đến chỗ Thiện nam tử muốn đi chơi kia, trải pháp tọa thuyết pháp. Hình người đó không thay đổi, song những người nghe pháp, bỗng tự thấy mình ngồi trên hoa sen báu, thân thể hóa thành thân vàng chói sáng; cả một thính chúng, mỗi người đều như thế, được cái chưa từng có. Người tu hành ngu mê, lầm là Bồ tát, tâm hóa dâm dật, phá luật nghi của Phật, lén làm việc tham dục. Miệng ma ưa nói các Đức Phật ứng hóa ra đời, người Mỗ, chỗ Mỗ tức là hóa thân của Đức Phật Mỗ; người Mỗ sẽ đến, tức là vị Bồ tát Mỗ, đến giáo hóa thế gian. Người tu hành thấy thế, tâm sanh hâm mộ, tà trí thầm thầm nổi lên, chủng trí tiêu diệt. Ấy gọi là giống bạt quỷ, tuổi già thành ma, khuấy rối người tu hành. Khi ma khuấy chán rồi, bỏ thân người, không gá nữa, thì đệ tử cùng thầy đều sa vào lưới pháp luật. Ông nên Giác ngộ trước, thì không vào luân hồi; nếu mê lầm không biết, thì đọa vào ngục Vô Gián. Lại Thiện nam tử kia, Thọ ấm đã hư diệu, không mắc các tà lự, tánh viên định phát minh; trong Tam ma địa, tâm lại ưa thầm hợp, lặng đứng cái tư tưởng, tham cầu được khế hợp. Khi bấy giờ, Thiên ma chờ được dịp ấy, cho tinh thần gá vào người khác, miệng nói kinh pháp; người đó thật không biết bị ma gá vào, cũng tự bảo đã được Vô thượng Niết bàn, đến chỗ người Thiện nam tử cầu khế hợp kia, trải pháp tọa thuyết pháp. Hình người đó và những người nghe pháp, bề ngoài không có thay đổi, nhưng lại khiến cho các thính giả, trước khi nghe pháp, tâm đã tự khai ngộ, niệm niệm dời đổi, hoặc được túc mạng thông, hoặc có tha tâm thông, hoặc thấy địa ngục, hoặc biết các việc hay, dở trong thế gian, hoặc miệng nói bài kệ, hoặc tự tụng kinh được, mỗi mỗi đều vui vẻ, được cái chưa từng có. Người tu hành ngu mê, lầm là Bồ tát, tâm sanh ra dính dáng yêu đương, phá luật nghi của Phật, lén làm việc tham dục. Miệng ma thích nói Phật có lớn, nhỏ, Đức Phật Mỗ là Đức Phật trước, Đức Phật Mỗ là Đức Phật sau, trong đó cũng có Phật thật, Phật giả, Phật trai, Phật gái; Bồ tát cũng thế. Người tu hành thấy như vậy, bỏ sạch bản tâm, dễ vào các tà ngộ. Ấy gọi là giống mỵ quỷ, tuổi già thành ma, khuấy rối người tu hành. Khi ma khuấy chán rồi, bỏ thân người, không gá nữa, thì đệ tử cùng thầy đều sa vào lưới pháp luật. Ông nên Giác ngộ trước, thì không vào luân hồi, nếu mê lầm không biết, thì đọa vào ngục Vô Gián. Lại Thiện nam tử kia, Thọ ấm đã hư diệu, không mắc các tà lự, tánh viên định phát minh; trong Tam ma địa, tâm lại ưa biết cỗi gốc; nơi sự vật chuyển hóa, muốn xét biết cùng tột chung thủy, thúc cái tâm sáng suốt thêm, tham cầu nhận biết chia chẻ. Khi bấy giờ, Thiên ma chờ được dịp ấy, cho tinh thần gá vào người khác, miệng nói kinh pháp. Người đó thật không biết bị ma gá vào, cũng tự bảo đã được Vô thượng Niết bàn, đến chỗ Thiện nam tử cầu biết cỗi gốc kia, trải pháp tọa thuyết pháp. Người đó có uy thần, làm cho những người cầu pháp đều kính phục; khiến cho thính chúng dưới pháp tọa, khi chưa nghe pháp, tự nhiên tâm đã phục rồi; tất cả bọn ấy đều cho rằng Niết bàn, Bồ đề, Pháp thân của Phật, tức là cái xác thịt hiện tiền; cha con sanh nhau, đời này đến đời khác, tức là Pháp thân thường trụ không mất; đều chỉ hiện tại, tức là cõi Phật, không có cõi tịnh cư và thân kim sắc nào khác. Người tu hành tin lĩnh những điều đó, bỏ mất bản tâm, đem thân mạng mà quy y, được cái chưa từng có; người đó ngu mê, lầm là Bồ tát, suy xét cái tâm như thế, phá luật nghi của Phật, lén làm việc tham dục. Miệng ma ưa nói, mắt, tai, mũi, lưỡi đều là Tịnh Độ, hai căn nam nữ tức là chỗ thật Bồ đề Niết bàn; bọn không biết kia, đều tin lời nhơ nhớp đó. Ấy gọi là giống cổ độc quỷ và giống áp thắng quỷ, tuổi già thành ma, khuấy rối người tu hành. Khi ma khuấy chán rồi, bỏ thân người, không gá nữa, thì đệ tử cùng thầy đều sa vào lưới pháp luật. Ông nên Giác ngộ trước, thì không vào luân hồi, nếu mê lầm không biết, thì đọa vào ngục Vô Gián. Lại Thiện nam tử kia, Thọ ấm đã hư diệu, không mắc các tà lự, tánh viên định phát minh; trong Tam ma địa, tâm lại ưa biết các việc trước sau, chín xét cùng khắp, tham cầu được thầm cảm. Khi bấy giờ, Thiên ma chờ được dịp ấy; cho tinh thần gá vào người khác, miệng nói kinh pháp. Người đó thật không biết bị ma gá vào, cũng tự bảo đã được Vô thượng Niết bàn, đến chỗ Thiện nam tử cầu cảm ứng kia, trải pháp tọa thuyết pháp. Có thể khiến cho thính chúng tạm thấy cái thân như đã trăm ngàn tuổi, tâm sanh ra ái nhiễm, không thể rời bỏ, đem thân làm nô bộc, cúng dường tứ sự, không biết mệt mõi; lại khiến cho mỗi người dưới pháp tọa, tâm biết đó là vị Tiên sư, là vị Thiện tri thức, riêng sanh lòng pháp ái, dính như keo sơn, được cái chưa từng có. Người tu hành ngu mê, lầm là Bồ tát, gần gũi tâm ma, phá luật nghi của Phật, lén làm việc tham dục. Miệng ma ưa nói, ta ở kiếp trước, trong đời Mỗ, trước độ người Mỗ, lúc đó là thê thiếp, anh em của ta, nên nay lại đến độ cho nhau; ta sẽ cùng các người theo nhau về cảnh giới Mỗ, cúng dường Đức Phật Mỗ; hoặc nói có cõi trời Đại Quang Minh riêng biệt, Phật ở trong ấy, và là chỗ nghỉ ngơi của tất cả các đức Như Lai. Bọn không biết kia, đều tin những lời phỉnh gạt đó, bỏ mất bản tâm. Ấy gọi là giống lệ quỷ, tuổi già thành ma, khuấy rối người tu hành. Khi ma khuấy chán rồi, bỏ thân người, không gá nữa, thì đệ tử cùng thầy đều sa vào lưới pháp luật. Ông nên Giác ngộ trước, thì không vào luân hồi, nếu mê lầm không biết, thì đọa vào ngục Vô Gián. Lại Thiện nam tử kia, Thọ ấm đã hư diệu, không mắc các tà lự, tánh viên định phát minh; trong Tam ma địa, tâm lại ưa đi sâu vào, khắc khổ siêng năng, thích ở chỗ thầm vắng, tham cầu sự yên lặng. Khi bấy giờ, Thiên ma chờ được dịp ấy, cho tinh thần gá vào người khác, miệng nói kinh pháp. Người đó thật không biết bị ma gá vào, cũng tự bảo đã được Vô thượng Niết bàn, đến chỗ Thiện nam tử cầu thầm lặng kia, trải pháp tọa thuyết pháp. Khiến cho thính chúng, mỗi người đều biết nghiệp cũ của mình; hoặc ở nơi đó, bảo một người rằng: Ngươi nay chưa chết đã làm súc sanh, rồi bảo một người đạp cái đuôi đằng sau, liền khiến người đó đứng dậy không được; cả trong một chúng đều hết lòng kính phục, có người móng tâm lên, thì nó đã biết ý; ngoài luật nghi của Phật ra, nó lại càng thêm khắc khổ, chê bai Tỳ kheo, mắng nhiếc đồ chúng, phơi lộ việc người ta, không tránh sự cơ hiềm. Miệng ma ưa nói những họa phúc chưa đến và khi đã đến rồi, thì mảy may không sai. Ấy gọi là giống đại lực quỷ, tuổi già thành ma, khuấy rối người tu hành. Khi ma khuấy chán rồi, bỏ thân người, không gá nữa, thì đệ tử cùng thầy đều sa vào lưới pháp luật. Ông nên Giác ngộ trước, thì không vào luân hồi, nếu mê lầm không biết, thì đọa vào ngục Vô Gián. Lại Thiện nam tử kia, Thọ ấm đã hư diệu, không mắc các tà lự, tánh viên định phát minh; trong Tam ma địa, tâm lại ưa hiểu biết, siêng năng xét tìm, tham cầu biết túc mạng. Khi bấy giờ, Thiên ma chờ được dịp ấy, cho tinh thần gá vào người khác, miệng nói kinh pháp. Người đó thật không biết bị ma gá vào, cũng tự bảo đã được Vô thượng Niết bàn, đến chỗ Thiện nam tử cầu hiểu biết kia, trải pháp tọa thuyết pháp. Người tu hành bỗng nhiên, nơi chỗ thuyết pháp, được hạt châu báu lớn; hoặc khi ma hóa làm súc sanh, miệng ngậm hạt châu với những vật kỳ lạ như đồ trân bảo, giản sách, phù độc, đến trao trước cho người tu hành, rồi sau cọ gá vào thân thể; hoặc khi ma bảo người nghe pháp, có hạt châu minh nguyệt chôn ở dưới đất, đương soi sáng chỗ đó, làm cho các thính giả được cái chưa từng có. Ma thường ăn cây thuốc, chứ không ăn cơm, hoặc khi mỗi ngày chỉ ăn một bữa hạt vừng hoặc hạt mạch, do sức ma chấp trì, thân hình vẫn béo tốt. Ma lại chê bai Tỳ kheo, mắng nhiếc đồ chúng, không tránh sự cơ hiềm; trong miệng ưa nói, kho báu phương khác và chỗ ẩn cư của các bậc thánh hiền thập phương; những người đi theo sau, thường thấy có người kỳ lạ. Ấy gọi là giống quỷ thần núi rừng, thổ địa, thành hoàng, sông núi, tuổi già thành ma; hoặc khi kêu gọi làm điều dâm dục, phá giới luật Phật, cùng với những kẻ thừa sự, lén làm việc ngũ dục; hoặc khi lại tinh tấn, ăn toàn cỏ cây; việc làm không nhất định, cốt khuấy rối người tu hành. Khi ma khuấy chán rồi, bỏ thân người, không gá nữa, thì đệ tử cùng thầy phần nhiều sa vào lưới pháp luật. Ông nên Giác ngộ trước, thì không vào luân hồi; nếu mê lầm không biết, thì đọa vào ngục Vô Gián. Lại Thiện nam tử kia, Thọ ấm đã hư diệu, không mắc các tà lự, tánh viên định phát minh; trong Tam ma địa, tâm lại ưa các thứ biến hóa thần thông,nghiên cứu nguồn gốc biến hóa, tham cầu có thần lực. Khi bấy giờ, Thiên ma chờ được dịp ấy, cho tinh thần gá vào người khác, miệng nói kinh pháp. Người đó thật không hay biết bị ma gá vào, cũng tự bảo đã được Vô thượng Niết bàn, đến chỗ Thiện nam tử cầu thần thông kia, trải pháp tọa thuyết pháp. Người đó, hoặc tay cầm ngọn lửa, nắm chia ngọn lửa trên đầu tứ chúng nghe pháp; ngọn lửa trên đỉnh những người nghe pháp đều dài vài thước, mà cũng không đốt cháy, cũng không có nóng. Người đó, hoặc đi trên nước như đi trên đất bằng, hoặc ở giữa hư không, ngồi yên không lay động; hoặc vào trong bình, hoặc ở trong đãy, hoặc vượt cửa sổ, hoặc thấu qua tường, không chút ngăn ngại; chỉ đối với đao binh thì không được tự tại. Người đó tự bảo là Phật, thân mặc bạch y, chịu Tỳ kheo lễ bái, chê bai Thiền luật, mắng nhiếc đồ chúng, phơi lộ việc người, không tránh sự cơ hiềm; trong miệng thường nói thần thông tự tại; hoặc lại cho người thấy cõi Phật một bên, đó là do sức quỷ mê hoặc, không có gì là chân thật. Người đó khen ngợi việc hành dâm, không từ bỏ những việc làm thô tục, bảo những sự ôm ấp lẫn nhau là truyền pháp. Ấy gọi là những giống sơn tinh, hải tinh, phong tinh, hà tinh, thổ tinh, và những loài tinh mỵ của tất cả cỏ cây đã sống nhiều kiếp, có sức lớn trong trời đất, hoặc là long mỵ, hoặc là tiên chết rồi, sống lại làm mỵ; hoặc quả báo đạo tiên đã hết, kể năm thì phải chết, nhưng hình hài không hư nát, nên loài quái khác gá vào. Bọn ấy tuổi già thành ma, khuấy rối người tu hành. Khi khuấy chán rồi, bỏ thân người không gá nữa, thì đệ tử cùng thầy phần nhiều sa vào lưới pháp luật. Ông nên Giác ngộ trước, thì không vào luân hồi, nếu mê lầm không biết, thì đọa vào ngục Vô Gián. Lại Thiện nam tử kia, Thọ ấm đã hư diệu, không mắc các tà lự, tánh viên định phát minh; trong Tam ma địa, tâm lại ưa vào chỗ diệt hết, nghiên cứu tánh biến hóa, tham cầu cái rỗng không sâu nhiệm. Khi bấy giờ, Thiên ma chờ được dịp ấy, cho tinh thần gá vào người khác, miệng nói kinh pháp. Người đó thật không biết bị ma gá vào, cũng tự bảo đã được Vô thượng Niết bàn, đến chỗ Thiện nam tử cầu rỗng không kia, trải pháp tọa thuyết pháp. Ở trong đại chúng, hình của người đó bỗng hóa thành không, cả chúng không thấy gì, rồi lại từ hư không bỗng chốc hiện ra, khi còn, khi mất, được tự tại; hoặc hiện cái thân rỗng suốt như ngọc lưu ly, hoặc duỗi tay chân xuống, phát ra mùi thơm chiên đàn, hoặc đại tiểu tiện như đường phèn cứng chắc. Người đó chê bai phá hoại giới luật, khinh rẻ những người xuất gia; trong miệng thường nói, không nhân quả, chết rồi là diệt hẳn, không có thân sau; lại các phàm, thánh, tuy được phép không tịch, vẫn lén làm việc tham dục và người thụ lĩnh cái dâm dục đó, cũng được tâm rỗng không, bác không nhân quả. Ấy gọi là những giống tinh khí nhật nguyệt bạc thực, kim, ngọc, chi thảo, lân, phụng, quy, hạc, trải qua ngàn vạn năm không chết, làm tinh linh sanh ra trong các quốc độ, tuổi già thành ma, khuấy rối người tu hành. Khi ma khuấy chán rồi, bỏ thân người, không gá nữa, thì đệ tử cùng thầy phần nhiều sa vào lưới pháp luật. Ông nên Giác ngộ trước, thì không vào luân hồi, nếu mê lầm không biết, thì đọa vào ngục Vô Gián. Lại Thiện nam tử kia, Thọ ấm đã hư diệu, không mắc các tà lự, tánh viên định phát minh; trong Tam ma địa, tâm lại ưa sống lâu, gian khổ quan sát tinh vi, tham cầu được nhiều tuổi; bỏ cái sống phân đoạn, lại trông mong cái tướng vi tế của biến dịch sanh tử được thường trụ. Khi bấy giờ, Thiên ma chờ được dịp ấy, cho tinh thần gá vào người khác, miệng nói kinh pháp. Người đó không hề hay biết bị ma gá vào, cũng tự bảo được Vô thượng Niết bàn, đến chỗ Thiện nam tử cầu sống lâu kia, trải pháp tọa thuyết pháp. Người đó ưa nói, đi về phương khác, không hề chậm trễ, hoặc trải qua muôn dặm, giây lát đã trở lại và đều lấy được những vật nơi đó; hoặc ở một chỗ, hay trong một nhà, chỉ trong vài bước, bảo người ta đi từ vách Đông qua đến vách Tây, nhưng người ta đi mau cả năm không đến; nhân đó, người tu hành tin tưởng, nghi là Phật hiện tiền. Miệng ma thường nói, thập phương chúng sanh đều là con ta, ta sanh ra chư Phật, ta sanh ra thế giới, ta là Phật đầu tiên, tự nhiên ra đời, không nhân tu hành mà đắc đạo. Ấy gọi là ma trụ thế Tự Tại thiên, nó khiến bọn quyến thuộc chưa phát tâm như bọn Giá văn trà hay là Tỳ Xá đồng tử cõi Tứ Thiên vương, thích cái hư minh, đến ăn tinh khí người tu hành. Hoặc không nhân ông thầy, chính người tu hành tự mình xem thấy, bọn đó tự xưng là thần Chấp Kim Cang đến cho trường thọ. Bọn đó hiện thân gái đẹp, thịnh hành việc dâm dục, làm cho chưa đầy một năm, gan não người tu hành đã khô kiệt, miệng nói lẩm bẩm một mình, nghe như yêu mỵ. Người ngoài chưa rõ nguyên do, nên phần nhiều người bị như thế, phải sa vào lưới pháp luật và chưa kịp hành hình đã chết khô trước. Thế là bọn ma khuấy phá người tu hành kia, đến phải ốm chết. Ông nên Giác ngộ trước, thì không vào luân hồi, nếu mê lầm không biết, thì đọa vào ngục Vô Gián. A Nan, nên biết mười thứ ma ấy, trong đời mạt pháp, hoặc xuất gia tu hành ở trong đạo Phật, hoặc gá thân người, hoặc tự hiện hình, đều tự bảo đã thành Chánh Biến Tri giác, khen ngợi dâm dục, phá luật nghi của Phật; ma thầy trước cùng đệ tử ma, dâm dục truyền nhau; tà ma như thế, mê hoặc tim gan, ít thì chín đời, nhiều đến trăm đời, khiến cho người tu hành chân chính, đều làm quyến thuộc của ma, sau khi mạng chung, chắc phải làm dân ma, bỏ mất Chánh Biến Tri, đọa vào ngục Vô Gián. Nay ông chưa nên vào Niết bàn trước, dầu được quả Vô học, cũng phát nguyện vào trong đời mạt pháp kia, phát lòng đại từ bi, cứu độ cho chúng sanh có lòng thâm tín chân chính, khiến cho khỏi mắc tà ma, được Chánh tri kiến; nay tôi đã độ ông ra khỏi sống chết, ông vâng lời Phật dạy, thì gọi là báo ơn Phật. A Nan, mười thứ cảnh hiện ra trong thiền định như thế, đều do Tưởng ấm và tâm công dụng giao xen, nên hiện ra những cảnh ấy; chúng sanh ngu mê, không biết suy xét tự lượng, gặp nhân duyên đó, mê không tự biết, tự bảo là lên bậc thánh, thành tội đại vọng ngữ, phải đọa vào ngục Vô Gián. Bọn ông cần phải, sau khi tôi diệt độ rồi, đem những lời dạy nầy của Như Lai truyền bày cho đời mạt pháp, khiến cho khắp các chúng sanh tỏ ngộ nghĩa đó, không để Thiên ma được dịp khuấy rối; giữ gìn che chở cho chúng sanh thành đạo vô thượng. NAM MÔ LĂNG NGHIÊM HỘI THƯỢNG PHẬT BỒ TÁT MA HA TÁT Quyển 10: A Nan, Thiện nam tử kia, tu pháp Tam ma địa, khi Tưởng ấm đã hết, thì những mộng tưởng bình thường của người đó đã tiêu diệt, khi thức, khi ngủ, luôn luôn một thể, tánh giác minh rỗng lặng như hư không trong sạch, không còn những sự tướng tiền trần thô trọng; xem những núi sông đất liền thế gian, như gương soi sáng, khi đến, không dính vào đâu, khi qua, không có dấu vết, rỗng chịu chiếu ứng, rõ ràng không còn tập quán cũ, chỉ một tánh tinh chân. Căn nguyên của sanh diệt từ đó phơi lộ ra, thấy được 12 loài chúng sanh thập phương, rõ hết các loài; tuy chưa thông suốt manh mối của mỗi chúng sanh, nhưng đã thấy cơ sở sanh diệt chung, giống như bóng dã mã, lớp lớp chớp nhoáng hiện ra, làm cái then chốt phát sanh các phù căn trần; ấy thì gọi là phạm vi Hành ấm. Nếu cái cỗi gốc của những lăng xăng chớp nhoáng u ẩn đó, vào được tánh đứng lặng bản lai, những tập khí sanh diệt bản lai dừng lại như sóng mòi diệt hết, hóa thành nước đứng, thì gọi là hết Hành ấm. Người đó, thì vượt khỏi chúng sanh trược; xét lại nguyên do, cỗi gốc là u ẩn vọng tưởng. A Nan nên biết, các Thiện nam tử được sự nhận biết đúng đắn trong Xa ma tha đó, chính tâm đứng lặng sáng suốt, mười loài Thiên ma không còn được dịp khuấy phá. Trong lúc nghiên cứu tinh vi cùng tột cỗi gốc sanh loại, khi cỗi gốc sanh diệt bản loại lộ ra, xét cái cỗi gốc thường chuyển động lăng xăng cùng khắp u ẩn kia, lại móng tâm so đo chấp là tánh viên nguyên, thì người đó sa vào hai cái luận vô nhân: Một, là người đó thấy cái gốc không có nhân. Vì cớ sao? Người đó đã được cơ sở sanh diệt toàn lộ ra, nương theo 800 công đức của Nhãn căn, thấy trong tám muôn kiếp, tất cả chúng sanh đều theo dòng nghiệp báo mà xoay vần, chết nơi nầy, sanh nơi kia; chỉ thấy chúng sanh luân hồi trong đó, ngoài tám muông kiếp thì mờ mịt không thấy gì, bèn phát ra sự nhận định rằng, những loại chúng sanh thập phương trong thế gian nầy, trước tám muôn kiếp, không do nhân gì mà tự có. Do sự chấp trước so đo như thế, bỏ mất Chánh Biến Tri, sa lạc vào ngoại đạo, lầm mất tánh Bồ đề. Hai, là người đó thấy cái ngọn không có nhân. Vì cớ sao? Người đó đã thấy cỗi gốc sanh diệt, biết người sanh người, rõ chim sanh chim, thấy chim quạ luôn luôn đen, chim hộc luôn luôn trắng, loài người, loài trời thân vẫn đứng thẳng, các loài súc sanh thân vẫn nằm ngang, sắc trắng không phải do tẩy mà thành, sắc đen không phải do nhuộm tạp ra, suốt tám muôn kiếp không hề dời đổi, cho đến hết đời nầy cũng như vậy; mà từ xưa đến nay, người đó không thấy gì là Bồ đề, làm sao lại còn có việc thành đạo Bồ đề, rồi nhận định tất cả các sự vật ngày nay, đều không có nguyên nhân gì cả. Do những so đo, chấp trước như thế, bỏ mất tánh Chánh Biến Tri, sa lạc vào ngoại đạo, lầm mất tánh Bồ đề; ấy gọi là ngoại đạo thứ nhất, lập những luận vô nhân. A Nan, các Thiện nam tử đó, trong Tam ma địa, chính tâm đứng lặng sáng suốt, Thiên ma không còn dịp khuấy phá; trong lúc xét cùng cỗi gốc sanh loại, xét cái cỗi gốc thường chuyển động u ẩn kia, lại móng tâm so đo chấp là tánh viên thường, thì người ấy sa vào bốn cái luận biến thường: Một, là người đó xét cùng bản tánh của tâm và cảnh, cả hai đều không có nhân; tu tập biết được trong hai muôn kiếp, thập phương chúng sanh có những sự sanh diệt, đều là xoay vần, không hề tan mất, nên chấp đó là thường. Hai, là người đó xét cùng cỗi gốc tứ đại, thấy tứ đại thường trụ, tu tập biết được trong bốn muôn kiếp, thập phương chúng sanh tuy có sanh diệt, nhưng đều có bản thể thường hằng, không hề tan mất, nên chấp đó là thường. Ba, là người đó xét cùng nguyên do bản lai của Lục căn, của sự chấp thụ thức Mạt na và của các tâm, ý, ý thức, thấy tánh vẫn thường xuyên; tu tập biết được trong tám muôn kiếp, tất cả chúng sanh xoay vần không mất, bản lai là thường trụ; rồi xét tột tánh không mất đó, mà chấp là thường. Bốn, là người đó nghĩ rằng đã hết Tưởng ấm, lẽ ra không còn lưu chuyển, đứng lặng xoay vần; tư tưởng sanh diệt đã diệt hết rồi, thì trong lý tự nhiên thành không sanh diệt; người đó, nhân tâm niệm so đo như thế, mà chấp là thường. Do những sự chấp thường ấy, bỏ mất Chánh Biến Tri, đọa lạc vào ngoại đạo, lầm mất tánh Bồ đề, ấy gọi là ngoại đạo thứ hai, lập những luận viên thường. Lại các Thiện nam tử đó, trong Tam ma địa, chính tâm đứng lặng vững chắc, Thiên ma không còn dịp khuấy phá; trong lúc xét cùng cỗi gốc sanh loại, xét cái cỗi gốc thường chuyển động u ẩn kia, lại móng tâm so đo chấp trước giữa mình và cái khác, thì người đó mắc vào bốn Kiến chấp điên đảo, là những luận một phần vô thường, một phần thường: Một là người đó quán cái tâm diệu minh lặng vậy cùng khắp thập phương thế giới, cho là cái thần ngã rốt ráo; do đó, chấp có cái ta cùng khắp mười phương đứng lặng sáng suốt không lay động, còn tất cả chúng sanh, thì ở trong tâm ta tự sanh, tự chết; vậy tâm tánh của ta, thì gọi là thường, còn những bọn sanh diệt kia, thì thật là vô thường. Hai, là người đó không xét cái tâm, lại xét khắp hằng sa quốc độ trong mười phương, thấy có chỗ bị kiếp tai phá hoại, thì cho là có tánh rốt ráo vô thường, còn những chỗ không bị kiếp tai phá hoại, thì gọi là rốt ráo thường. Ba, là người đó quán sát riêng cái tâm mình là tinh tế nhỏ nhiệm giống như vi trần, là tinh tế nhỏ nhiệm giống như vi trần, lưu chuyển trong mười phương mà tánh không dời đổi, lại có thể khiến cái thân nầy, sanh rồi lại diệt; rồi chấp cái tánh không mất đó, là tánh thường của mình, còn tất cả sự sống chết, từ tánh ấy sanh ra, thì gọi là vô thường. Bốn, là người đó biết Tưởng ấm hết rồi, thấy được dòng Hành ấm, chấp cái lưu chuyển thường xuyên của Hành ấm là tánh thường, còn những Sắc ấm, Thọ ấm, Tưởng ấm hiện đã diệt hết, thì gọi là vô thường. Do những chấp trước so đo một phần vô thường, một phần thường như thế, mà sa lạc vào ngoại đạo, lầm mất tánh Bồ đề; ấy gọi là ngoại đạo thứ ba, lập những luận một phần thường. Lại các Thiện nam tử, trong Tam ma địa, chính tâm đứng lặng vững chắc, Thiên ma không còn dịp khuấy phá; khi xét cùng cỗi gốc sanh loại, xét cỗi gốc thường chuyển động u ẩn kia, lại sanh tâm so đo chấp trước về phận vị, thì người đó sa vào bốn cái luận hữu biên: Một, là người đó so đo cái cỗi gốc sanh diệt lưu chuyển không ngừng, rồi chấp quá khứ, vị lai, là hữu biên và chấp cái tâm tương tục, là vô biên. Hai, là người đó xét trong tám muôn kiếp thì thấy chúng sanh, còn trước tám muôn kiếp thì bặt không nghe thấy gì, rồi gọi chỗ không nghe thấy, là vô biên, còn chỗ có chúng sanh, là hữu biên. Ba, là người đó chấp rằng mình biết cùng khắp, là được tánh vô biên, còn tất cả các người kia, hiện ra trong cái biết của mình, mà mình không hề biết họ nhận được tánh biết, thì những người kia không được cái tâm vô biên và chỉ có tánh hữu biên. Bốn, là người dó khi xét cùng diệt trừ Hành ấm, dùng tri kiến của mình, mà so đo chấp tất cả chúng sanh trong mỗi cái thân, đều là phần nửa sanh, phần nửa diệt và chấp tất cả sự vật có ra trong thế giới, đều một nửa là hữu biên, một nửa là vô biên. Do những so đo, chấp trước hữu biên, vô biên như thế, sa lạc vào ngoại đạo, lầm mất tánh Bồ đề, ấy gọi là ngoại đạo thứ tư, lập những luận hữu biên. Lại các Thiện nam tử, trong Tam ma địa, chính tâm đứng lặng vững chắc, Thiên ma không còn dịp khuấy phá; trong lúc xét cùng cỗi gốc sanh loại, xét cái cỗi gốc thường chuyển động u ẩn kia, sanh lòng so đo chấp trước về tri kiến, thì người đó mắc vào bốn thứ luận hư vọng điên đảo biến kế, càn loạn bất tử: Một, là người đó quán sát cỗi gốc biến hóa, thấy chỗ dời đổi, thì gọi là biến, thấy chỗ tương tục, thì gọi là thường, thấy chỗ thấy được, thì gọi là sanh, chỗ không thấy được, thì gọi là diệt; chỗ các nhân tương tục, không có đứt đoạn, thì gọi là thêm; chính trong tương tục, chỗ rời nhau ở giữa, thì gọi là giảm; chỗ mỗi mỗi cái sanh ra, thì gọi là có, chỗ tương đối không có, thì gọi là không, dùng lý quán sát tất cả và dụng tâm thành những Kiến chấp riêng biệt; có người đến cầu pháp hỏi nghĩa, thì đáp rằng Ta nay cũng sanh, cũng diệt, cũng có, cũng không, cũng thêm, cũng bớt, trong tất cả thời đều nói lộn xộn, khiến cho người nghe không thể hiểu được. Hai, là người đó chín xét cái tâm về chỗ tương đối là không, nhân cái không mà được chứng; có người đến hỏi, chỉ đáp một chữ, chỉ nói là không; ngoài chữ không ra, không nói gì cả. Ba, là người đó chín xét cái tâm về chỗ mỗi mỗi đều có, nhân cái đó mà được chứng; có người đến hỏi, chỉ đáp một chữ, chỉ nói là phải; trừ chữ phải ra, không nói gì cả. Bốn, là người đó chấp cả có, cả không; do cái cảnh rời rạc mà tâm cũng rối loạn; có người đến hỏi thì đáp rằng: Cũng có, tức là cũng không, trong cái cũng không, không phải là cũng có; tất cả đều càn loạn, không thể nói hết được. Do những so đo, chấp trước càn loạn, rỗng trống như thế, mà sa lạc vào ngoại đạo, lầm mất tánh Bồ đề; ấy gọi là ngoại đạo thứ năm, lập bốn thứ luận hư vọng, điên đảo biến kế, càn loạn bất tử. Lại các Thiện nam tử, trong Tam ma địa, chính tâm đứng lặng vững chắc, Thiên ma không còn dịp khuấy phá; trong lúc xét cùng cỗi gốc sanh loại, xét cái cỗi gốc thường chuyển động u ẩn kia, sanh tâm so đo chấp trước nơi dòng sanh diệt vô tận, thì người ấy sa vào tư tưởng điên đảo, chấp sau khi chết có tướng. Hoặc khi tự củng cố cái thân mình, bảo Sắc là ta; hoặc khi thấy cái ta bao trùm khắp các cõi nước, rồi bảo rằng ta có Sắc; hoặc thấy các tiền trần kia, theo ta mà xoay trở về, rồi bảo rằng Sắc thuộc về ta; hoặc thấy cái ta, nương theo lưu chuyển mà tương tục, rồi bảo rằng ta ở nơi Sắc; những người đó, đều so đo chấp rằng sau khi chết có tướng; xoay vần như thế có đến 16 tướng. Từ đó, hoặc còn chấp rằng rốt ráo phiền nãp và rốt ráo Bồ đề, hai tánh ấy đi song song với nhau, không đụng chạm gì nhau. Do những so đo, chấp sau khi chết có tướng như vậy, sa lạc vào ngoại đạo, lầm mất tánh Bồ đề; ấy gọi là ngoại đạo thứ sáu, lập những luận điên đảo, nhận trong Ngũ ấm, sau khi chết có tướng. Lại các Thiện nam tử, trong Tam ma địa, chính tâm đứng lặng vững chắc, Thiên ma không còn dịp khuấy phá; khi xét cùng cỗi gốc sanh loại, xét cái cỗi gốc thường lay động u ẩn kia, lại sanh tâm so đo chấp trước nơi ba ấm Sắc, Thọ, Tưởng, đã trừ diệt rồi thì người đó sa vào những tư tưởng điên đảo, chấp sau khi chết không có tướng. Người đó thấy Sắc ấm diệt, thân hình không nhân vào đâu; xét Tưởng ấm diệt, tâm không ràng buộc vào đâu; biết Thọ ấm diệt, không còn dính dáng vào đâu; tánh các ấm đó đã tiêu tan, dầu có sanh lý mà không thụ, không tưởng, thì cũng đồng như cỏ cây; rồi nghĩ rằng hình chất nầy, hiện tiền còn không thể nắm được, làm sao, sau khi chết lại còn có các tướng; nhân đó, xét nhận sau khi chết, không có tướng; xoay vần như thế có đến tám cái luận vô tướng. Từ đó, hoặc chấp Niết bàn, nhân quả, tất cả đều không, luống có danh tự, nhưng rốt ráo đều đoạn diệt. Do những so đo, chấp sau khi chết không có tướng như vậy, sa lạc vào ngoại đạo, lầm mất tánh Bồ đề, ấy gọi là ngoại đạo thứ bảy, lập những luận điên đảo, chấp trong Ngũ ấm, sau khi chết không có tướng. Lại các Thiện nam tử, trong Tam ma địa, chính tâm đứng lặng vững chắc, Thiên ma không còn dịp khuấy phá; khi xét cùng cỗi gốc sanh loại, xét cái cỗi gốc thường chuyển động u ẩn kia, nơi Hành ấm còn và Thọ, Tưởng đã diệt, chấp cả cái có và cái không, tự thể phá nhau, thì người đó mắc vào những luận điên đảo, chấp sau khi chết, không phải có, không phải không. Người đó, thấy những ấm Sắc, Thọ, Tưởng, có mà không phải có; xét Hành ấm chuyển biến, không mà không phải không; xoay vần như thế cùng tột các ấm, thành tám cái tướng không phải có, không phải không, tùy gặp duyên gì, đều nói sau khi chết có tướng, không tướng. Lại xét tánh Hành ấm sanh diệt thay đổi liên tục, phát tâm thông suốt, chấp tất cả đều không phải có, không phải không, lộn lạo hư thật. Do những so đo, chấp sau khi chết không phải có, không phải không như thế, mà đường sau mờ mịt, không còn lối đi, sa lạc vào ngoại đạo, lầm mất tánh Bồ đề; ấy gọi là ngoại đạo thứ tám, lập những luận điên đảo, chấp trong Ngũ ấm, sau khi chết, không phải có, không phải không. Lại các Thiện nam tử, trong Tam ma địa, chính tâm đứng lặng vững chắc, Thiên ma không còn dịp khuấy phá; trong lúc xét cùng cỗi gốc sanh loại, xét cái cỗi gốc thường chuyển động u ẩn kia, sanh tâm so đo, chấp sau nầy là không, thì người đó mắc vào bảy cái luận đoạn diệt. Hoặc chấp hết thân nầy là diệt, hoặc chấp hết Ngũ dục là diệt, hoặc chấp hết khổ là diệt, hoặc chấp tột vui là diệt, hoặc chấp xả hết là diệt; xoay vần như thế cùng tột đến bảy cách chấp hiện tiền là tiêu diệt, diệt rồi không trở lại nữa. Do những so đo, chấp sau khi chết là đoạn diệt như thế, sa lạc vào ngoại đạo, lầm mất tánh Bồ đề; ấy gọi là ngoại đạo thứ chín, lập những luận điên đảo, chấp trong Ngũ ấm, sau khi chết là đoạn diệt. Lại các Thiện nam tử, trong Tam ma địa, chính tâm đứng lặng vững chắc, Thiên ma không còn dịp khuấy phá; trong lúc xét cùng cỗi gốc sanh loại, xét cái cỗi gốc thường chuyển động u ẩn kia, sanh tâm so đo, chấp sau nầy là có, thì người đó mắc vào năm luận Niết bàn. Hoặc nhận những định Dục Giới là chuyển y chân chính, do xem thấy sáng suốt cùng khắp, mà sanh lòng yêu mến vậy. Hoặc nhận Sơ Thiền là chuyển y chân chính, vì không còn ưu thụ vậy. Hoặc nhận Nhị Thiền, vì không khổ thụ vậy. Hoặc nhận Tam Thiền, vì rất vui đẹp vậy. Hoặc nhận Tứ Thiền, khổ vui đã hết, chấp không còn chịu sanh diệt trong luân hồi vậy. Người đó, lầm những cõi trời hữu lậu là quả vô vi, lầm sự an ẩn 5 chỗ ấy là quả báo thù thắng thanh tịnh của các bậc thánh hiền; xoay vần như thế rốt ráo có năm chỗ. Do những so đo, chấp trước năm thứ Niết bàn hiện có như thế, sa lạc vào ngoại đạo, lầm mất tánh Bồ đề; ấy gọi là ngoại đạo thứ mười, lập những luận điên đảo, chấp trong Ngũ ấm, có năm thứ Niết bàn hiện có. A Nan, mười thứ nhận hiểu điên rồ trong Thiền na như thế, đều do Hành ấm và tâm công dụng giao xen, nên hiện ra những nhận thức đó. Chúnh sanh ngu mê, không tự lượng xét, gặp cái đó hiện ra, lại nhận mê làm ngộ, tự bảo là chứng bậc thánh, thành tội đại vọng ngữ và sẽ đọa vào ngục Vô Gián. Bọn ông, quyết phải đem lời nầy của Như Lai, sau khi tôi diệt độ rồi, truyền lại trong đời mạt pháp, khiến cho tất cả chúng sanh hiểu rõ nghĩa nầy, không để cho tâm ma tự gây nên những tội lỗi sâu nặng, giữ gìn che chở cho chúng sanh tiêu diệt các tà kiến, dạy cho Giác ngộ đạo nghĩa chân thật, không mắc vào các đường trẽ nơi đạo vô thượng, chớ để chúng sanh được một ít đã cho là đủ và nêu ra lời chỉ dạy thanh tịnh của vị Đại Giác. A Nan, Thiện nam tử kia, tu phép Tam ma địa, khi Hành ấm hết rồi, thì cái then chốt lay động u ẩn chung, sanh ra các loài thế gian, bỗng được xóa bỏ; giềng mối vi tế, quan hệ sâu xa gây nghiệp chịu báo của ngã thể chúng sanh, cảm ứng đều bặt dứt. Người đó, hầu được đại Giác ngộ nơi bản tánh Niết bàn, như khi gà gáy tan, xem qua phương Đông, đã có ánh sáng. Sáu căn rỗng lặng, không còn rong ruổi nữa; trong và ngoài đều lặng sáng, vào được tánh vô sở nhập, thấu suốt nguyên do thụ sanh của 12 loài mười phương; xét rõ nguyên nhân do chấp trước gây nên, các loài không thể hấp dẫn được; nơi thập phương thế giới, đã nhận được tánh đồng; tánh tinh vi ấy còn tồn tại, phát hiện ra một cách bí ẩn, ấy thì gọi là phạm vi của Thọ ấm. Nếu trong tánh đồng đã chứng được của các loài, huân tập tiêu hóa Lục căn, làm cho khi hợp, khi chia được tự tại, cái thấy, cái nghe thông nhau, tác dụng thanh tịnh thay thế lẫn nhau, thì thập phương thế giới với lại thân tâm đều như ngọc lưu ly, trong ngoài sáng suốt; thế gọi là hết Thọ ấm. Người đó, mới vượt khỏi mạng trược; xét lại nguyên do, cỗi gốc là vọng tưởng điên đảo, huyễn hóa rỗng không. A Nan nên biết Thiện nam tử đó, đã xét cùng tánh không của các Hành, trở về bản tánh của thức, đã diệt được sanh diệt, nhưng chưa viên mãn chỗ tinh diệu của tịch diệt. Người đó, có thể khiến nơi thân mình, các căn khác nhau khi hợp, khi chia và thông suốt với sự hay biết các loài thập phương; cái hay biết đó thông suốt vẳng lặng, có thể vào tánh bản viên. Nếu nơi chỗ quay về, lại lập ra cái nhân chân thường, và quyết định như thế là đúng, thì người đó, sa vào cái chấp nhân sở nhân, trở thành bạn bè với bọn Sa Tỳ Ca La chấp có Minh Đế, mê muội Bồ đề của Phật, bỏ mất Chánh tri kiến; ấy gọi là bọn thứ nhất, lập cái tâm sở đắc, thành cái quả sở quy, trái xa tánh viên thông, đi ngược đạo Niết bàn, sanh ra giống ngoại đạo. A Nan, lại Thiện nam tử kia, xét cùng tánh không của các Hành, đã diệt sanh diệt, nhưng chưa viên mãn chỗ tinh diệu của tịch diệt; nếu nơi tánh đã nhập được, lại ôm làm tự thể của mình, cho rằng tất cả chúng sanh trong mười hai loài, cùng tột hư không, đều từ trong thân mình phát sanh ra và quyết định như thế là đúng, thì người đó, sa vào cái chấp năng phi năng, thành bạn bè với bọn Ma Hê Thủ La, hiện ra thân vô biên, mê muội Bồ đề của Phật, bỏ mất Chánh tri kiến; ấy gọi là bọn thứ hai, lập cái tâm năng vi, thành cái quả năng sự, trái xa tánh viên thông, đi ngược đạo Niết bàn, sanh ra giống đại mạn thiên, chấp cái ta cùng khắp viên mãn. Lại Thiện nam tử kia, xét cùng tánh không các Hành, đã diệt sanh diệt, nhưng chưa viên mãn chỗ tinh diệu của tịch diệt. Nếu trong lúc quay về, thấy có chỗ sở quy, lại tự nghĩ thân tâm mình từ chỗ kia sanh ra và cả thập phương hư không cũng đều do chỗ kia sanh ra, rồi tức nơi cái chỗ sanh ra tất cả đó, nhận là cái thể chân thường không sanh diệt. Như thế, là ở trong sanh diệt sớm chấp là thường trụ, chẳng những lầm tánh bất sanh, mà cũng mê tánh sanh diệt; an trụ trong mê lầm, trầm trọng, mà quyết định là đúng, thì người ấy, sa vào cái chấp Thường Phi Thường, thành bè bạn của những kẻ chấp có Tự Tại thiên, mê muội Bồ đề của Phật, bỏ mất Chánh tri kiến; ấy gọi là bọn thứ ba, lập cái tâm nhân y, thành cái quả vọng kế, trái xa tánh viên thông, đi ngược đạo Niết bàn, sanh ra giống đảo viên. Lại Thiện nam tử kia, xét cùng tánh không của các Hành, đã diệt sanh diệt, nhưng chưa viên mãn chỗ tinh diệu của tịch diệt. Nếu nơi chỗ hay biết, nhân sự hay biết cùng khắp mà lập ra cái nhận thức rằng cỏ cây thập phương đều gọi là hữu tình, cùng người không khác; rằng cỏ cây làm người, người chết rồi trở lại thành cỏ cây thập phương; nơi cái hay biết cùng khắp, không có lựa chọn và quyết định như thế là đúng, thì người ấy, sa vào cái chấp Tri Vô Tri thành bạn bè của bọn Bà tra, Tiển ni, chấp tất cả đều có hay biết, mê muội Bồ đề của Phật, bỏ mất Chánh tri kiến; ấy gọi là bọn thứ tư, chấp cái tâm viên tri, thành cái quả sai lầm, trái xa tánh viên thông, đi ngược đạo Niết bàn, sanh ra giống đảo tri. Lại Thiện nam tử kia, xét cùng tánh không của các Hành, đã diệt sanh diệt, nhưng chưa viên mãn chỗ tinh diệu của tịch diệt. Nếu trong lúc, đã được tùy thuận tánh viên dung của các căn dùng thay lẫn nhau, lại nơi tánh viên dung biến hóa phát sanh, cầu cái ánh sáng của Hỏa đại, ưa cái thanh tịnh của Thủy đại, yêu cái chu lưu của Phong đại, xét cái thành tựu của Địa đại, rồi sùng phụng, mỗi mỗi cái, nhận những Tứ đại kia là bản nhân và lập nó làm tánh thường trụ, thì người đó, sa vào cái chấp Sanh Vô Sanh, thành bè bạn của bọn Ca Diếp và bọn Bà la môn, đem hết thân tâm thờ lửa, thờ nước để cầu ra khỏi sống chết; mê muội Bồ đề của Phật, bỏ mất Chánh tri kiến; ấy gọi là bọn thứ năm, chấp trước phụng thờ, mê tâm theo vật, lập cái nhân hư vọng, để mong cầu cái quả giả dối, trái xa tánh viên thông, đi ngược đạo Niết bàn, sanh ra giống điên hóa. Lại Thiện nam tử kia, xét cùng tánh không của các Hành, đã diệt sanh diệt, nhưng chưa viên mãn chỗ tinh diệu của tịch diệt. Nếu nơi cảnh viên minh, chấp cái rỗng trống trong viên minh, bác bỏ tiêu diệt các sự vật biến hóa, lấy cái tánh diệt hẳn, làm chỗ quy y của mình và quyết định như thế là đúng, thì người đó, sa vào cái chấp Quy Vô Quy, thành bạn bè của bọn chấp không trong Vô Tưởng thiên, mê muội Bồ đề của Phật, bỏ mất Chánh tri kiến; ấy gọi là bọn thứ sáu, viên thành cái tâm hư vô, lập ra cái quả không vong, trái xa tánh viên thông, đi ngược đạo Niết bàn, sanh ra giống đoạn diệt. Lại Thiện nam tử kia, xét cùng tánh không của các Hành, đã diệt sanh diệt, nhưng chưa viên mãn chỗ tinh diệu của tịch diệt. Nếu nơi tánh viên thường, củng cố cái thân cho thường trụ như tánh ấy, mãi không suy mất và quyết định như thế là đúng, thì người ấy, sa vào cái chấp Tham Phi Tham, thành bè bạn của bọn A Tư Đà, cầu được trường sinh, mê muội Bồ đề của Phật, bỏ mất Chánh tri kiến; ấy gọi là bọn thứ bảy, chấp trước cái mạng căn, lập cái nhân củng cố vọng thân, đi đến cái quả kéo dài sự nhọc nhằn, trái xa tánh viên thông, đi ngược đạo Niết bàn, sanh ra giống vọng điên. Lại Thiện nam tử kia, xét cùng tánh không của các Hành, đã diệt sanh diệt, nhưng chưa viên mãn chỗ tinh diệu của tịch diệt, xét chỗ các mạng thông lẫn với nhau, lại muốn giữ lại trần lao, sợ nó tiêu hết; khi ấy bèn ngồi cung hoa sen, hóa ra rất nhiều bảy thứ trân bảo và những gái đẹp, buông lung tâm mình và quyết định như thế là đúng, thì người ấy sa vào cái chấp Chân Vô Chân, thành bè bạn của bọn Cha Chỉ Ca La, mê muội Bồ đề của Phật, bỏ mất Chánh tri kiến; ấy gọi là bọn thứ tám, lập cái nhân tà tư, thành cái quả xí trần, trái xa tánh viên thông, đi ngược đạo Niết bàn, sanh ra giống Thiên ma. Lại Thiện nam tử kia, xét cùng tánh không của các Hành, đã diệt sanh diệt, nhưng chưa viên mãn chỗ tinh diệu của tịch diệt. Nơi thức thể viên minh, cỗi gốc của sanh mạng, phân biệt chỗ tinh, chỗ thô, quyết đoán chỗ chân, chỗ ngụy; nơi nhân quả đền đáp, chỉ cầu cảm ứng, trái với đạo thanh tịnh; nghĩa là, chỉ thấy Khổ đế, đoạn Tập đế, chứng Diệt đế, tu Đạo đế; ở nơi Diệt đế đã yên rồi, lại không cầu tiến thêm nữa và quyết định như thế là đúng, thì người ấy, sa vào hàng định tánh Thanh văn, thành bè bạn của hàng Vô văn tăng, bị tăng thượng mạn, mê muội Bồ đề của Phật, bỏ mất Chánh tri kiến; ấy gọi là bọn thứ chín, viên mản tâm tinh ứng, thành cái quả thú tịch; trái xa tánh viên thông, đi ngược đạo Niết bàn, sanh ra giống triền không. Lại Thiện nam tử kia, xét cùng tánh không của các Hành, đã diệt sanh diệt, nhưng chưa viên mãn chỗ tinh diệu của tịch diệt. Nếu ở nơi tánh Giác minh thanh tịnh viên dung, phát minh tánh thâm diệu, liền nhận là Niết bàn mà không tiến lên và quyết định như thế là đúng, thì người ấy, sa vào hàng định tánh Bích chi, thành bè bạn của các vị Duyên giác, Độc giác, không biết hồi tâm hướng về Đại thừa, mê muội Bồ đề của Phật, bỏ mất Chánh tri kiến; ấy gọi là bọn thứ mười, viên thành giác tâm vẳng lặng, lập ra cái quả trạm minh, trái xa tánh viên thông, đi ngược đạo Niết bàn, sanh ra giống Giác ngộ viên minh, nhưng không hóa được tánh viên. A Nan, mười thứ Thiền na như thế, giữa đường hóa điên, nhân nương theo sự mê lầm, trong chỗ chưa đủ, lại nhận là đã chứng đầy đủ; đều do Thọ ấm và tâm công dụng giao xen, nên sanh những vị như thế. Chúng sanh mê mờ, không biết tự xét, gặp cái đó hiện tiền, mỗi mỗi đều dùng cái tâm mê lầm, còn ưa thích những tập quán cũ, mà tự dừng nghỉ, cho đó là chỗ quay về rốt ráo, tự bảo đã đầy đủ đạo Vô thượng Bồ đề, thành tội đại vọng ngữ. Bọn ngoại đạo tà ma, khi nghiệp báo chiêu cảm hết rồi, thì sa vào ngục Vô Gián; hàng Thanh văn, Duyên giác thì không tiến thêm được nữa. Bọn ông để tâm giữ đạo Như Lai, sau khi tôi diệt độ rồi, đem Pháp môn nầy truyền bày trong đời mạt pháp, khiến cho tất cả chúng sanh đều rõ biết nghĩa nầy, không để cho những ma tà kiến tự gây ra nạn lớn cho mình, giữ gìn thương cứu, tiêu dứt các tà duyên, khiến cho thân tâm vào được tri kiến của Phật, từ lúc ban đầu đến khi thành tựu, không mắc các đường trẽ. Pháp môn như thế, các Đức Như Lai như số vi trần, trong hằng sa kiếp quá khứ, đều vận dụng nó mà khai ngộ đạo vô thượng. Khi Thọ ấm hết rồi, thì hiện tiền các căn của ông đều được dùng thay lẫn nhau. Từ chỗ các căn dùng thay lẫn nhau, ông sẽ lên bậc Kim cang Càn huệ Bồ tát; cái tâm tinh diệu viên minh phát hóa trong ấy, như mặt trăng báu ở trong ngọc lưu ly trong sạch. Rồi, cứ thế vượt lên các vị Thập tín, Thập trụ, Thập hành, Thập hồi hướng, Tứ gia hạnh tâm và Thập địa Kim cang Bồ tát; tánh Đẳng giác được viên minh vào bể Diệu trang nghiêm của Như Lai, viên mãn đạo Bồ đề, về chỗ vô sở đắc. Đó là những ma sự vi tế, mà các Đức Phật Thế Tôn, đời quá khứ trước, đã Giác ngộ, nghiệm xét và phân tích trong lúc tu chỉ và tu quán. Nếu khi cảnh ma hiện tiền, ông nhận biết được, thì rửa trừ được cấu nhiễm, không mắc các tà kiến; ấm ma đều tiêu diệt, Thiên ma bị đánh tan, Đại lực quỷ thần hoảng hốt chạy trốn, lỵ mỵ vọng lượng không sanh ra được, thì đi thẳng đến Bồ đề, không có các điều thiếu sót. Những căn hạ liệt cũng được tăng tiến, đối với Đại Niết bàn, tâm không mê lầm. Nếu các chúng sanh ngu độn trong đời mạt pháp, chưa hiểu Thiền na, không biết Phật pháp, mà ưa tu Tam ma địa, ông e họ mắc vào tà kiến, thì nên một tâm khuyên bảo họ thụ trì chú Phật Đỉnh Đà la ni của tôi; nếu chưa tụng được, thì viết nơi thiền đường, hoặc đeo trong thân; như thế, tất cả các ma không thể động đến được. Ông nên kính vâng lời dạy bảo cuối cùng về đường tu tiến rốt ráo của thập phương Như Lai. Ông A Nan liền từ chỗ ngồi đứng dậy, nghe Phật dạy bảo, đỉnh lễ kính vâng, ghi nhớ không sót, ở trong đại chúng lại bạch Phật rằng: Như lời Phật dạy, trong tướng Ngũ ấm, có năm thứ hư vọng làm cái tưởng cỗi gốc, chúng tôi bình thường chưa được nhờ Đức Như Lai khai thị tỷ mỷ như thế. Lại Ngũ ấm ấy, là tiêu trừ một lần hay theo thứ lớp mà hết? Năm lớp như thế, đến đâu làm giới hạn? Xin nguyện Đức Như Lai phát lòng đại từ, làm cho tâm và con mắt đại chúng nầy được trong sáng, để làm đạo nhãn tương lai cho tất cả chúng sanh trong đời mạt pháp. Phật bảo ông A Nan: Tánh tinh chân là diệu minh, tánh bản giác là viên tịnh, không còn để lại những sự sống chết và các trần cấu; cho đến cả cái hư không, cũng đều nhân vọng tưởng mà sanh khởi ra. Tất cả cái ấy, gốc nơi bản giác diệu minh chân tánh, vọng phát sanh ra các khí thế gian, như anh Diễn Nhã Đa mê cái đầu, mà nhận cái bóng. Vọng vốn không có nhân; ở trong vọng tưởng lập ra tánh nhân duyên, khi mê tánh nhân duyên, thì gọi là tự nhiên. Cả tánh hư không kia, còn thật là huyễn hóa sanh ra và nhân duyên, tự nhiên đều là những sự so đo của vọng tâm chúng sanh. A Nan, biết do vọng sanh khởi ra, mà nói nhân duyên vọng; nếu cái vọng vốn không, thì nhân duyên vọng đó, vốn không có gì, huống nữa, không biết mà cho là tự nhiên; vậy nên Như Lai phát minh cho các ông rằng bản nhân của Ngũ ấm, đồng là vọng tưởng. Thân thể của ông trước kia, nhân cái tưởng của cha mẹ mà sanh, tâm của ông, nếu không phải là tưởng, thì không thể đến gá cái mạng vào trong tưởng. Như trước tôi đã nói: Tâm tưởng vị chua, trong miệng nước bọt sanh ra; tâm tưởng lên cao, trong lòng bàn chân nghe ghê rợn; dốc cao không có, vật chua chưa đến, cái thân thể của ông nếu không phải cùng loài hư vọng, thì làm sao nhân nghe nói chua, trong miệng nước bọt lại chảy ra; vậy ông nên biết, sắc thân hiện tiền của ông, gọi là vọng tưởng kiên cố thứ nhất. Tức nơi tâm tưởng tượng việc lên cao, vừa nói trước kia, nó có thể khiến thân ông thật chịu ghê rợn; nhân các thụ sanh ra, có thể xúc động đến sắc thân. Vậy hiện nay, hai thứ thụ thuận ích và vi tổn đang rong ruổi nơi ông, thì gọi là vọng tưởng hư minh thứ hai. Do những ý nghĩ sai khiến sắc thân của ông; nếu sắc thân không phải cùng loài, thì làm sao thân ông lại theo ý nghĩ sai khiến, nhận các thứ hình tượng, sanh tâm chấp nhận các hình, phù hợp với ý nghĩ; lúc thức là tưởng tâm, lúc ngủ làm chiêm bao. Vậy những vọng tánh lay động tưởng nghĩ của ông gọi là vọng tưởng dung thông thứ ba. Sự chuyển hoá không dừng, xoay vần thầm thầm dời đổi; móng tay dài, tóc sanh ra, khí lực tiêu, da mặt nhăn, ngày đêm thay đổi, mà không hề hay biết. A Nan, nếu cái đó không phải là ông, thì làm sao thân ông, lại dời đổi; nhưng, nếu nó thật là ông, thì sao ông lại không hay biết. Vậy, các hành niệm niệm không dừng của ông, gọi là vọng tưởng u ẩn thứ tư. Lại chỗ tinh minh đứng lặng, không lay động của ông, gọi là thường còn, thì nơi thân ông, không ra ngoài những sự thấy, nghe, hay, biết. Nếu nó thật là tánh tinh chân, thì không thể huân tập được điều vọng; vì thế nhân gì bọn ông, trong mấy năm trước, đã từng xem một vật lạ; trải qua nhiều năm không hề nghĩ đến; về sau bỗng nhiên thấy vật lạ đó, thì nhớ lại rõ ràng, không có thiếu sót; vậy trong tánh tinh minh đứng lặng, không lay động ấy, từng niệm từng niệm chịu huân tập, không thể tánh toán hết được. A Nan, nên biết cái đứng lặng đó, không phải thật, như nước chảy gấp, trông như đứng lặng, vì chảy gấp mà không thấy, chứ không phải không chảy. Nếu cỗi gốc cái đó, không phải vọng tưởng, thì đâu lại chịu để hư vọng huân tập. Nếu Lục căn của ông chưa được tự tại chia hợp, dùng thay lẫn nhau, thì cái vọng tưởng đó không lúc nào diệt được. Vậy nên hiện nay, cái tập khí quán xuyến tập trung những điều thấy, nghe, hay, biết của ông, là cái vọng tưởng điên đảo vi tế, huyễn hóa, rỗng trống thứ năm, trong tánh trạm liễu của ông. A Nan, năm cái ấm đó, do năm vọng tưởng tạo thành. Nay ông muốn biết giới hạn sâu cạn, thì chỉ sắc và không là biên giới của Sắc ấm, chỉ xúc và ly là biên giới của Thọ ấm; chỉ nhớ và quên là biên giới của Tưởng ấm; chỉ diệt và sanh là biên giới của Hành ấm; đứng lặng vào hợp với đứng lặng là biên giới của Thọ ấm. Năm ấm ấy vốn trùng điệp sanh khởi; sanh, nhân Thọ ấm mà có, diệt, từ Sắc ấm mà trừ; lý, thì ngộ liền, nhân cái ngộ đều tiêu; sự, không phải trừ liền, theo thứ lớp mà diệt hết. Tôi đã chỉ cho ông về cái nút khăn Kiếp ba la, có chỗ nào không rõ mà ông phải hỏi lại. Tâm ông cần phải thông suốt về cỗi gốc vọng tưởng đó, rồi đem truyền bày cho những người tu hành trong đời mạt pháp sau nầy, khiến cho họ biết hư vọng, tự sanh nhàm chán và biết có Niết bàn, không luyến tiếc ba cõi. A Nan, ví như có người đem các thứ thất bảo đầy nhẩy hư không cùng khắp mười phương, dâng lên chư Phật như số vi trần, vâng thờ cúng dường, tâm không lúc nào xao lãng; ý ông nghĩ thế nào, người đó, do nhân duyên cúng dường Phật như thế, được phúc có nhiều chăng? Ông A Nan đáp rằng: Hư không không hết, trân bảo không cùng; ngày xưa, có chúng sanh cúng Phật bảy đồng tiền, đến khi xả thân, còn được vị Chuyển Luân vương; huống nữa, hiện tiền hư không đã cùng hết, cõi Phật đã đầy khắp và đều cúng đồ trân bảo, thì dầu suy nghĩ cùng tột các kiếp, cũng không thể thấu được; phúc ấy làm sao còn có bờ bến. Phật bảo ông A Nan: Chư Phật Như Lai, lời nói không hư vọng. Ví như có người gây đủ các tội tứ trọng, thập ba la di, giây lát phải trải qua địa ngục A Tỳ phương nầy phương khác, cho đến cùng tột các địa ngục Vô Gián thập phương, không nơi nào, không phải trải qua; nếu người đó, dùng một niệm đem Pháp môn nầy, khai thị cho người chưa học trong đời mạt pháp thì tội chướng người đó liền được tiêu diệt, biến cái nhân phải chịu khổ địa ngục, thành cái nhân sanh về An Lạc quốc, được phúc vượt hơn người thí cúng trước kia, trăm lần, ngàn lần, ngàn vạn ức lần, như thế, cho đến toán số thí dụ không thể nói hết được. A Nan, nếu có chúng sanh, biết tụng kinh nầy, biết trì chú nầy, như tôi nói rộng ra, thì cùng tột các kiếp cũng không hết; nếu nương theo lời dạy của tôi, y như lời dạy mà tu hành, thì thẳng đến đạo Bồ đề, không còn có các ma sự. Phật nói kinh nầy rồi, các vị Tỳ kheo, tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di, tất cả loài trời, loài người, loài A tu la thế gian, các vị Bồ tát, Nhị thừa, thánh tiên, đồng tử cõi khác và các Đại lực quỷ thần mới phát tâm, đều rất vui mừng, làm lễ mà lui. NAM MÔ LĂNG NGHIÊM HỘI THƯỢNG PHẬT BỒ TÁT MA HA TÁT ――― Ghi chú của ADIDA: Chép từ nguồn: Việt dịch: Cư sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám (1961) — daithua.com (10 quyển). Bản văn đang được Ban Cố vấn Giáo lý ADIDA thẩm định; khi có kết luận sẽ được cập nhật. Nam mô A Di Đà Phật.

Nghe tụng — các bản thu

Nguồn tham khảo

Bài liên quan