Kinh Pháp Hoa (28 phẩm)

Kinh Pháp Hoa — Phẩm 7: Hóa Thành Dụ

🎧 Nghe bài này

Phẩm Hóa Thành Dụ là phẩm thứ 7 Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, do ngài Cưu Ma La Thập dịch Hán văn (khoảng năm 406), Hòa thượng Thích Trí Tịnh dịch tiếng Việt. Phẩm dùng dụ ngôn "hóa thành" và "bảo sở" để chỉ rõ Niết-bàn của hàng Thanh văn, Duyên giác chỉ là chỗ nghỉ tạm — đích đến chân thật là Phật quả Nhất Thừa mà Đức Phật muốn dẫn tất cả cùng đến.

Giới thiệu & ý nghĩa

🔊 Nghe giải thích:

Phẩm Hóa Thành Dụ nằm trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa (Kinh Pháp Hoa) — bộ kinh được ngài Cưu Ma La Thập phiên dịch ra chữ Hán vào khoảng năm 406 Tây lịch, đời Diêu Tần. Bản tiếng Việt phổ biến nhất hiện nay do Hòa thượng Thích Trí Tịnh dịch từ bản Hán văn đó. Đây là phẩm thứ 7 trong 28 phẩm của bộ kinh.

Nội dung phẩm mở ra bằng câu chuyện về Phật Đại Thông Trí Thắng — một vị Phật xuất hiện từ vô lượng kiếp xa xưa, có 16 vương tử. Khi vua cha thành Phật, 16 vị hoàng tử đều xuất gia, thay Phật giảng Kinh Pháp Hoa cho vô số chúng sinh, và sau này đều thành Phật ở các cõi khác nhau. Đức Phật Thích Ca chính là một trong 16 vị đó. Phẩm muốn nhắc: hạt giống Bồ đề giữa Phật và đệ tử đã gieo từ muôn kiếp trước — nhân duyên ấy không bao giờ mất.

Điểm cốt lõi của phẩm là dụ ngôn "hóa thành và bảo sở": một đoàn người muốn tìm kho báu nhưng phải vượt con đường hiểm 500 do tuần, đi đến nửa đường thì kiệt sức muốn bỏ cuộc. Vị đạo sư (tượng trưng cho Đức Phật) dùng thần lực hóa ra một thành phố tươi đẹp cho đoàn người vào nghỉ ngơi lấy sức. Nhưng khi mọi người đã hồi phục, ngài thu hóa thành lại và bảo: "Kho báu thực sự vẫn còn ở phía trước, hãy tiếp tục đi." Hóa thành chính là Niết-bàn của hàng Thanh văn và Duyên giác — là chỗ nghỉ tạm Đức Phật lập ra vì thương căn cơ chúng sinh còn yếu, sợ nghe Phật đạo lâu xa mà nản lòng. Còn bảo sở — kho báu đích thực — là Phật quả, là Nhất Thừa mà Đức Phật luôn muốn dẫn tất cả mọi người đến.

Gợi ý cho người tu: Bà con niệm Phật hằng ngày đang gieo hạt nhân duyên quý báu với Đức Phật — theo tinh thần kinh dạy, hạt giống nhân duyên ấy rất lâu bền và không dễ mất đi. Kết quả đến được bao xa còn tùy tâm chí thành và nhân duyên của mỗi người, nhưng quan trọng là đừng dừng lại giữa đường — tiếp tục nuôi dưỡng tâm lành, giữ giới, niệm Phật, và thực sự hành trì đều đặn để từng bước tiến gần bảo sở phía trước.

Lời kinh

KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA PHẨM 7: HÓA THÀNH DỤ Đức Phật bảo các thầy Tỳ kheo: Thuở quá khứ vô lượng vô biên bất khả tư nghì a tăng kỳ kiếp đã qua, lúc bấy giờ có Đức Phật hiệu Đại Thông Trí Thắng Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn. Nước đó tên là Hảo Thành, kiếp tên Đại Tướng. Các Tỳ kheo! Từ khi Đức Phật đó diệt độ nhẫn đến nay rất là lâu xa, thí như địa chủng trong cõi Tam thiên Đại thiên, giả sử có người đem mài làm mực rồi đi khỏi một nghìn cõi nước ở phương Đông bèn chấm một điểm chừng bằng bụi nhỏ, lại qua một nghìn cõi nước nữa cũng chấm một điểm, cứ như thế lần lượt chấm hết mực mài bằng địa chủng ở trên. Ý các ông nghĩ sao? Các cõi nước đó hoặc thầy toán có thể biết được ngằn mé số đó chăng? Thưa Thế Tôn! Không thể biết! Các Tỳ kheo! Những cõi nước của người đó đi qua hoặc có chấm mực hoặc không chấm mực đều nghiền nát cả ra làm bụi, một hột bụi là một kiếp, từ Đức Phật đó diệt độ đến nay lại lâu hơn số đó vô lượng vô biên trăm nghìn muôn ức a tăng kỳ kiếp. Ta dùng sức tri kiến của Như Lai xem thuở lâu xa đó dường như hiện ngày nay. Bấy giờ, đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng: Ta nhớ đời quá khứ Vô lượng vô biên kiếp Có Phật Lưỡng túc tôn Hiệu Đại Thông Trí thắng Như người dùng sức mài Cõi Tam thiên Đại thiên Hết tất cả địa chủng Thảy đều làm thành mực Quá hơn nghìn cõi nước Bèn chấm mỗi điểm trần Như thế lần lựa chấm Hết các mực trần nầy. Bao nhiêu cõi nước đó Điểm cùng chẳng điểm thảy Lại đều nghiền làm bụi Một bụi làm một kiếp Kiếp số lâu xa kia Lại nhiều hơn số bụi Phật đó diệt đến nay Vô lượng kiếp như thế Trí vô ngại của Phật Biết Phật đó diệt độ Và Thanh văn Bồ tát Như hiện nay thẩy diệt. Các Tỳ kheo nên biết. Trí Phật tịnh vi diệu Vô lậu và vô ngại Suốt thấu vô lượng kiếp. Đức Phật bảo các Tỳ kheo: Đức Đại Thông Trí Thắng Phật thọ năm trăm bốn mươi vạn ức na do tha kiếp, Đức Phật đó khi trước lúc ngồi đạo tràng phá ma rồi, sắp được đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác mà Phật pháp chẳng hiện ra trước, như thế một tiểu kiếp cho đến mười tiểu kiếp, ngồi xếp bằng thân và tâm đều không động mà các Phật pháp còn chẳng hiện ra trước. Thuở đó, các vị trời Đao Lợi ở dưới cội cây Bồ đề đã trước vì Đức Phật đó mà trải toà sư tử cao một do tuần, Phật ngồi nơi tòa nầy sẽ được đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Khi Phật vừa ngồi trên tòa đó các trời Phạm Thiên vương rưới những hoa trời khắp bốn mươi do tuần, gió thơm lâu lâu thổi đến, thổi dẹp hoa héo rồi rưới hoa mới mãi như thế không ngớt mãn mười tiểu kiếp để cúng dường Đức Phật, nhẫn đến khi Phật diệt độ thường rưới hoa nầy. Các trời Tứ Thiên vương vì cúng dường Phật nên thường đánh trống trời. Ngoài ra các vị trời khác trỗi kỹ nhạc trời, mãn mười tiểu kiếp đến khi Phật diệt độ cũng lại như thế. Các Tỳ kheo! Đức Đại Thông Trí Thắng Phật quá mười tiểu kiếp các Phật pháp hiện ra trước thành đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Lúc Phật chưa xuất gia có mười sáu người con trai, người con cả tên Trí Tích. Các người con đó đều có các món đồ chơi tốt đẹp báu lạ, nghe cha chứng đặng quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác đều bỏ đồ báu của mình đi đến chỗ Phật. Các người mẹ khóc lóc theo đưa. Ông nội là vua Chuyển luân thánh vương, cùng một trăm vị đại thần và trăm nghìn muôn ức nhân dân khác đều vây quanh nhau đi theo đến đạo tràng, mọi người đều đến gần gũi Đức Đại Thông Trí Thắng Như Lai để cúng dường cung kính tôn trọng ngợi khen. Khi đã đến nơi tất cả đem đầu mặt mình lạy chân Phật, đi vòng quanh Đức Phật xong, đều chắp tay một lòng chiêm ngưỡng dung nhan của Phật, rồi nói kệ khen Phật: Thế Tôn oai đức lớn Vì muốn độ chúng sanh Trong vô lượng ức năm Bèn mới được thành Phật Các nguyện đã đầy đủ Hay thay lành vô thượng Thế Tôn rất ít có Một phen ngồi mười kiếp Thân thể và tay chân Yên tịnh không hề động Tâm Phật thường lặng Chưa từng có tán loạn Trọn rốt ráo vắng bặt An trụ pháp vô lậu Ngày nay thấy Thế Tôn An ổn thành Phật đạo Chúng con được lợi lành Mừng rỡ rất vui đẹp. Chúng sanh thường đau khổ Đui mù không Đạo sư Chẳng biết đạo dứt khổ Chẳng biết cầu giải thoát Lâu ngày thêm nẻo ác Giảm tổn các chúng trời Từ tối vào nơi tối Trọn chẳng nghe danh Phật. Nay Phật được vô thượng Đạo an ổn vô lậu Chúng ta và trời người Vì được lợi lớn tột Cho nên đều cúi đầu Quy mạng đấng vô thượng. Bấy giờ mười sáu vị vương tử nói kệ khen Đức Phật rồi liền khuyến thỉnh Đức Thế Tôn Chuyển pháp luân, đều thưa rằng: Đức Thế Tôn nói pháp được an ổn, thương xót làm lợi ích cho các trời và nhân dân. Lại nói kệ rằng: Đức Phật không ai bằng Trăm phước tự trang nghiêm Được trí huệ vô thượng Nguyện vì đời nói pháp Độ thoát cho chúng con Và các loài chúng sanh Xin phân biệt chỉ bày Cho được trí huệ Phật Nếu chúng con cũng thành Phật Chúng sanh cũng được thế Thế Tôn biết chúng sanh Thâm tâm nghĩ tưởng gì Cũng biết đạo chúng làm Lại biết sức trí huệ Muốn ưa và tu phước Nghiệp gây tạo đời trước Thế Tôn biết cả rồi Nên chuyển pháp vô thượng. Phật bảo các Tỳ kheo: Lúc Đức Đại Thông Trí Thắng Phật được quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, trong mười phương, mỗi phương đều năm trăm muôn ức các cõi nước Phật sáu điệu vang động. Trong các cõi nước đó chỗ tối tăm ánh sáng của nhật nguyệt không soi tới được mà đều sáng rỡ, trong đó chúng sanh đều được thấy nhau, đồng nói rằng: Trong đây tại sao bỗng sanh ra chúng sanh? Lại trong các cõi đó cung điện của chư thiên cho đến Phạm cung sáu điệu vang động, hào quang lớn soi cùng khắp đầy cõi nước, sáng hơn ánh sáng của trời. Bấy giờ, phương Đông, năm trăm muôn ức các cõi nước, cung điện của trời Phạm Thiên ánh sáng soi chói gấp bội hơn ánh sáng thường ngày, các Phạm Thiên vương đều tự nghĩ rằng: Hôm nay cung điện sáng suốt từ xưa chưa từng có, vì nhân duyên gì mà hiện điềm tốt này? Lúc đó các vị Phạm Thiên vương liền đi đến nhau để chung bàn việc đó. Trong chúng có một vị Phạm Thiên vương lớn tên Cứu Nhứt Thiết vì các Phạm Chúng mà nói kệ rằng: Các cung điện chúng ta Sáng suốt xưa chưa có Đây là nhân duyên gì Phải nên chung nhau tìm Là trời đại đức sanh Hay là Phật ra đời Mà ánh sáng lớn này Khắp soi cả mười phương. Bấy giờ, năm trăm muôn ức cõi nước, các vị Phạm Thiên vương cùng chung với cung điện mỗi vị đều lấy đãy đựng các thứ hoa trời, đồng đi đến phương Tây suy tìm tướng sáng đó. Thấy Đức Đại Thông Trí Thắng Như Lai ngồi tòa sư tử ở nơi đạo tràng dưới cội Bồ đề, hàng chư trời, rồng vương, Càn thát bà, Khẩn na la, Ma hầu la dà, nhơn và phi nhơn,… cung kính vây quanh Đức Phật Chuyển pháp luân; tức thời các vị Phạm Thiên vương đầu mặt lạy chân Phật đi quanh trăm nghìn vòng, liền lấy hoa trời mà rải trên Đức Phật. Hoa của mấy ông rải nhóm như núi Diệu Cao, cùng để cúng dường cây Bồ đề của Phật, cây Bồ đề đó cao mười do tuần. Cúng dường hoa xong, mỗi vị đem cung điện dưng lên Đức Phật mà thưa rằng: Xin Đức Phật đoái thương lợi ích cho chúng con, cung điện dâng cúng đây xin nhận ở. Lúc đó, các vị Phạm Thiên vương liền ở trước Phật một lòng đồng tiếng dùng kệ khen rằng: Thế Tôn rất ít có Khó thể gặp gỡ được Đủ vô lượng công đức Hay cứu hộ tất cả Thầy lớn của trời người Thương xót ở trong đời Mười phương các chúng sanh Khắp đều nhờ lợi ích. Chúng con từng theo đến Năm trăm muôn ức nước Bỏ vui thiền định sâu Vì để cúng dường Phật Chúng con phước đời trước Cung điện rất tốt đẹp Nay đem dưng Thế Tôn Cúi xin, thương nạp thọ. Bấy giờ, các vị Phạm Thiên vương nói kệ khen Đức Phật rồi thưa rằng: Cúi xin Đức Thế Tôn Chuyển pháp luân, độ thoát chúng sanh mở đường Niết bàn. Khi ấy, các vị Phạm Thiên vương một lòng đồng tiếng mà nói kệ rằng: Thế hùng Lưỡng túc tôn Cúi xin diễn nói pháp Dùng sức từ bi lớn Độ chúng sanh khổ não. Lúc đó Đức Đại Thông Trí Thắng Như Lai lắng yên nhận lời đó. Lại nữa các Tỳ kheo! Phương Đông Nam năm trăm muôn ức cõi nước các vị Phạm Thiên vương đều tự thấy cung điện mình ánh sáng chói lòa từ xưa chưa từng có, vui mừng hớn hở sanh lòng hy hữu, liền cùng đến nhau chung bàn việc đó. Lúc ấy trong chúng đó có một vị Phạm Thiên vương tên là Đại Bi, vì các Phạm Chúng mà nói kệ rằng: Việc đó nhân duyên gì Mà hiện tướng như thế? Các cung điện chúng ta Sáng suốt xưa chưa từng có Là trời Đại đức sanh Hay là Phật ra đời? Chưa từng thấy tướng nầy Nên chung một lòng cầu Quá nghìn muôn ức cõi Theo luồng sáng tìm đến Phần nhiều Phật ra đời Độ thoát khổ chúng sanh. Bấy giờ, năm trăm muôn ức các vị Phạm Thiên vương cùng chung với cung điện, lấy đãy đựng các thứ hoa trời, đồng đến phương Tây Bắc suy tìm tướng đó. Thấy Đức Đại Thông Trí Thắng Như Lai ngồi tòa sư tử nơi đạo tràng dưới cội Bồ đề, các hàng chư trời, rồng vương, Càn thát bà, Khẩn na la, Ma hầu la dà, nhơn cùng phi nhơn,… cung kính vây quanh, và thấy mười sáu vị vương tử thỉnh Phật Chuyển pháp luân. Khi ấy các vị Phạm Thiên vương đầu mặt lạy chân Phật, đi quanh trăm nghìn vòng, liền lấy hoa trời mà rải trên Phật. Hoa rải đó nhóm như núi Diệu Cao, cùng để cúng dường cây Bồ đề của Phật. Cúng dường hoa xong, đều đem cung điện dâng lên Đức Phật mà thưa rằng: Xin Phật thương xót lợi ích cho chúng con, những cung điện dâng đây cúi xin nhận ở. Lúc đó, các vị Phạm Thiên vương liền ở trước Phật một lòng đồng tiếng nói kệ khen rằng: Thánh Chúa vua trong trời Tiếng Ca lăng tần già Thương xót hàng chúng sanh Chúng con nay kính lễ. Thế Tôn rất ít có Lâu xa một lần hiện Một trăm tám mươi kiếp Luống qua không có Phật Ba đường dữ dẫy đầy Các chúng trời giảm ít. Nay Phật hiện ra đời Làm mắt cho chúng sanh Chỗ quy thú của đời Cứu hộ cho tất cả Là cha của chúng sanh Thương xót làm lợi ích Nhờ phước lành đời trước Nay được gặp Thế Tôn. Khi đó, các vị Phạm Thiên vương nói kệ khen Phật xong đều thưa rằng: Cúi xin Đức Thế Tôn thương xót tất cả Chuyển pháp luân cho, để độ thoát chúng sanh. Lúc ấy, các vị Phạm Thiên vương một lòng đồng tiếng mà nói kệ khen rằng: Đại thánh Chuyển pháp luân Chỉ bày các pháp tướng Độ chúng sanh đau khổ Khiến được rất vui mừng Chúng sanh nghe pháp này Được đạo hoặc sanh thiên Các đường dữ giảm ít Bậc nhẫn thiện thêm nhiều. Khi đó, Đức Đại Thông Trí Thắng Phật lặng yên nhận lời. Lại nữa các Tỳ kheo! năm trăm muôn ức cõi nước ở phương Nam các vị Đại Phạm vương đều tự thấy cung điện mình ánh sáng chói lòa từ xưa chưa từng có, vui mừng hớn hở sanh lòng hy hữu liền đến cùng nhau chung bàn việc đó. Vì nhân duyên gì cung điện của chúng ta có ánh sáng chói này? Trong chúng đó có một vị Phạm Thiên vương lớn tên là Diệu pháp, vì hàng Phạm Chúng mà nói kệ rằng: Các cung điện chúng ta Quang minh rất oai diệu Đây không phải không nhân Tướng nầy phải tìm đó Quá hơn trăm nghìn kiếp Chưa từng thấy tướng nầy Là trời đại đức sanh Hay Đức Phật ra đời? Bấy giờ, năm trăm muôn ức Phạm Thiên vương cùng cung điện chung, mỗi vị dùng đãy đựng các thứ hoa trời đồng đến phương Bắc suy tìm tướng đó. Thấy Đức Đại Thông Trí Thắng Như Lai ngồi tòa sư tử nơi đạo tràng dưới cội cây Bồ đề, hàng chư trời, rồng vương, Càn thát bà, Khẩn na la, Ma hầu la dà, nhơn và phi nhơn,… cung kính vây quanh, cùng thấy mười sáu vị vương tử thỉnh Phật Chuyển pháp luân. Khi đó, các vị Phạm Thiên vương đầu mặt lễ Phật đi quanh trăm nghìn vòng, liền lấy hoa trời mà rải trên Đức Phật. Hoa rải đó nhóm như núi Diệu Cao và để cúng dường cây Bồ đề của Phật. Cúng dường hoa xong, mỗi vị đều đem cung điện dâng lên Đức Phật mà thưa rằng: Xin Đức Phật đoái thương lợi ích chúng con, cung điện của chúng con dâng đây cúi xin nạp xử. Bấy giờ, các vị Đại Phạm Thiên vương liền ở trước Phật một lòng đồng tiếng nói kệ khen rằng: Thế Tôn rất khó thấy Bậc phá các phiền não Hơn trăm ba mươi kiếp Nay mới thấy một lần Hàng chúng sanh đói khát Nhờ mưa pháp đầy đủ Xưa chỗ chưa từng thấy Đấng vô lượng trí huệ Như hoa Ưu đàm bát Ngày nay mới gặp gỡ Cung điện của chúng con Nhờ hào quang được đẹp Thế Tôn đại từ mẫn Cúi xin thương nhận ở. Khi đó, các vị Phạm Thiên vương nói kệ khen Đức Phật rồi đều bạch rằng: Cúi mong Đức Thế Tôn Chuyển pháp luân làm cho tất cả thế gian các hàng Trời, Ma, Phạm, Sa môn, Bà la môn đều được an ổn mà được độ thoát. Lúc ấy các vị Phạm Thiên vương một lòng đồng tiếng nói kệ rằng: Cúi mong Thiên nhân tôn Chuyển pháp luân vô thượng Đánh vang pháp cổ lớn Mà thổi pháp loa lớn Độ vô lượng chúng sanh Chúng con đều quy thỉnh Nên nói tiếng sâu xa. Khi đó, Đức Đại Thông Trí Thắng lặng yên nhận lời đó. Phương Tây Nam nhẫn đến phương dưới cũng lại như thế. Bấy giờ, năm trăm muôn ức cõi nước ở thượng phương, các vị Đại Phạm Thiên vương thảy đều tự thấy cung điện của mình ở ánh sáng chói rực từ xưa chưa từng có, vui mừng hớn hở sanh lòng hy hữu, liền đi đến nhau để chung bàn việc đó. Vì nhân duyên gì cung điện của chúng ta có ánh sáng nầy? Lúc đó trong chúng có một vị Đại Phạm Thiên vương tên là Thi Khí vì hàng Phạm Chúng mà nói kệ rằng: Nay vì nhân duyên gì? Cung điện của chúng ta Ánh sáng oai đức từng có? Tướng tốt như thế đó Xưa chưa từng nghe thấy Là trời Đại Đức sanh Hay là Phật ra đời? Bấy giờ, năm trăm muôn ức các vị Phạm Thiên vương cùng cung điện chung, mỗi vị đều dùng đãy đựng các thứ hoa trời đồng đến phương dưới suy tìm tướng sáng đó. Thấy Đức Đại Thông Trí Thắng Như Lai ngồi tòa sư tử nơi đạo tràng dưới gốc Bồ đề, hàng chư trời, rồng vương, Càn thát bà, Khẩn na la, Ma hầu la dà, nhơn và phi nhơn,… cung kính vây quanh và thấy mười sáu vị vương tử thỉnh Đức Phật Chuyển pháp luân. Lúc đó, các vị Phạm Thiên vương đầu mặt lạy Phật đi quanh trăm nghìn vòng, liền lấy hoa trời rải trên Đức Phật. Hoa rải nhóm như núi Diệu Cao và để cúng dường cây Bồ đề của Phật. Cúng dường hoa xong, đều đem cung điện dâng lên Đức Phật mà bạch rằng: Xin đoái thương lợi ích chúng con. Cung điện dâng đây cúi mong Phật nạp ở. Lúc đó, các vị Phạm Thiên vương liền ở trước Phật một lòng đồng tiếng dùng kệ khen rằng: Hay thay! thấy các Phật Đấng thánh tôn cứu thế Hay ở ngục tam giới Cứu khỏi các chúng sanh Thiên nhân tôn trí khắp Thương xót loài quần manh Hay khai môn cam lộ Rộng độ cho tất cả. Lúc xưa vô lượng kiếp Luống qua không có Phật Khi Phật chưa ra đời Mười phương thường mờ tối Ba đường dữ thêm đông A tu la cũng thạnh Các chúng trời càng bớt Chết nhiều đọa ác đạo Chẳng theo Phật nghe pháp Thường làm việc chẳng lành Sắc, lực, cùng trí huệ Các việc đều giảm ít Vì tội nghiệp nhân duyên Mất vui cùng tưởng vui Trụ trong pháp tà kiến Chẳng biết nghi tắc lành Chẳng nhờ Phật hóa độ Thường đọa trong ác đạo. Phật là mắt của đời Lâu xa mới hiện ra Vì thương các chúng sanh Nên hiện ở trong đời Siêu việt thành chánh giác Chúng con rất mừng vui Và tất cả chúng khác Mừng khen chưa từng có Cung điện của chúng con Nhờ hào quang nên đẹp Nay đem dâng Thế Tôn Cúi mong thương nhận ở Nguyện đem công đức này Khắp đến cho tất cả Chúng con cùng chúng sanh Đều đồng thành Phật đạo. Khi đó, năm trăm muôn ức các vị Phạm Thiên vương nói kệ khen Đức Phật rồi, đều bạch Phật rằng: Cúi mong Đức Thế Tôn Chuyển pháp luân, nhiều chỗ an ổn, nhiều chỗ độ thoát. Lúc ấy các vị Phạm Thiên vương đồng nói kệ rằng: Thế Tôn Chuyển pháp luân Đánh trống pháp cam lộ Độ chúng sanh khổ não Mở bày đường Niết bàn Cúi mong nhận lời con Dùng tiếng vi diệu lớn Thương xót mà nói bày Pháp tu vô lượng kiếp. Lúc bấy giờ, Đại Thông Trí Thắng Như Lai nhận lời thỉnh của các Phạm Thiên vương và mười sáu vị vương tử tức thời ba phen Chuyển pháp luân mười hai hành hoặc là Sa môn, Bà la môn, hoặc là Trời, Ma, Phạm và các thế gian khác đều không thể chuyển được, nói: Đây là khổ, đây là khổ tập, đây là khổ diệt, đây là đạo diệt khổ. Và rộng nói pháp Thập nhị nhân duyên: vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh sắc duyên lục nhập, lục nhập duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu, hữu duyên sanh, sanh duyên lão, tử, ưu bi, khổ não. Vô minh diệt thì hành diệt, hành diệt thì thức diệt, thức diệt thì danh sắc diệt, danh sắc diệt thì lục nhập diệt, lục nhập diệt thì xúc diệt, xúc diệt thì thọ diệt, thọ diệt thì ái diệt, ái diệt thì thủ diệt, thủ diệt thì hữu diệt, hữu diệt thì sanh diệt, sanh diệt thì lão, tử, ưu bi, khổ não diệt. Đức Phật ở trong đại chúng trời, người khi nói pháp đó có sáu trăm muôn ức na do tha người do vì không thọ tất cả pháp mà ở các lậu tâm được giải thoát, đều được thiền định sâu mầu, ba món minh, sáu món thông, đủ tám giải thoát. Lúc nói pháp lần thứ hai, lần thứ ba, lần thứ tư, có nghìn muôn ức hằng hà sa na do tha chúng sanh cũng bởi không thọ tất cả pháp mà nơi các lậu tâm được giải thoát. Từ đây nhẫn sau các chúng Thanh văn nhiều vô lượng vô biên, không thể tánh kể được. Bấy giờ mười sáu vị vương tử đều là đồng tử mà xuất gia làm Sa di, các căn thông lanh, trí huệ sáng láng, đã từng cúng dường trăm nghìn muôn ức các Đức Phật, tịnh tu hạnh thanh tịnh, cầu đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, đều bạch cùng Phật rằng: Thưa Thế Tôn! Các vị Đại đức Thanh văn vô lượng nghìn muôn ức đây đã thành tựu xong, đức Thế Tôn cũng nên vì chúng con nói pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, chúng con nghe xong đều đồng tu học Thế Tôn! Chúng con có chí mong được tri kiến của Như Lai chỗ nghĩ tưởng trong thâm tâm, Đức Phật tự chứng biết cho. Lúc đó, tám muôn ức người trong chúng của Chuyển luân thánh vương dắt đến thấy mười sáu vị vương tử xuất gia, cũng tự cầu xuất gia, vua liền thuận cho. Bấy giờ, Đức Phật nhận lời thỉnh của Sa di, qua hai muôn kiếp sau mới ở trong hàng bốn chúng nói kinh Đại thừa tên là: Diệu Pháp Liên Hoa là pháp giáo hoá Bồ Tát được chư Phật hộ niệm. Đức Phật nói kinh đó xong, mười sáu vị Sa di vì đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, đều đồng thọ thì đọc tụng thông thuộc. Lúc nói kinh đó, mười sáu vị Sa di Bồ Tát thảy đều tin thọ trong chúng Thanh văn cũng có người tin hiểu. Ngoài ra nghìn muôn ức loại chúng sanh đều sanh lòng nghi lầm. Phật nói kinh đó suốt tám nghìn kiếp chưa từng thôi bỏ. Phật nói kinh đó xong liền vào tịnh thất trụ trong thiền định tám muôn bốn nghìn kiếp. Bấy giờ, mười sáu vị Bồ tát Sa di biết Phật nhập thất trụ trong thiền định vắng bặt, mỗi vị đều lên pháp tòa cũng trong tám muôn bốn nghìn kiếp vì bốn bộ chúng rộng nói phân biệt kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Mỗi vị đều độ sáu trăm muôn ức na do tha hằng hà sa chúng sanh, chỉ dạy cho được lợi mừng, khiến phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Đức Đại Thông Trí Thắng Phật qua tám muôn bốn nghìn kiếp sau từ Tam ma địa dậy, qua đến pháp tòa mà ngồi an lành, khắp bảo trong hàng đại chúng: Mười sáu vị Bồ tát Sa di này rất là ít có, các căn thông lẹ, trí huệ sáng láng, đã từng cúng dường vô lượng nghìn muôn ức số Đức Phật, ở chỗ các Đức Phật thường tu hạnh thanh tịnh, thọ trì trí của Phật để chỉ dạy chúng sanh làm cho vào trong đó. Các ông phải luôn luôn gần gũi mà cúng dường các vị ấy. Vì sao? Nếu hàng Thanh văn, Duyên giác cùng các Bồ tát có thể tin kinh pháp của mười sáu vị Bồ tát Sa di đó nói mà thọ trì không mất, thì người đó sẽ được đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác trí huệ của Như Lai. Phật bảo các Tỳ kheo: Mười sáu vị Bồ tát đó thường ưa nói kinh Diệu Pháp Liên Hoa nầy. Sáu trăm muôn ức na do tha hằng hà sa chúng sanh của mỗi vị Bồ Tát hóa độ đó đời đời sanh ra đều cùng Bồ tát ở chung, theo nghe pháp với Bồ tát thảy đều tin hiểu. Nhờ nhân duyên đó mà được gặp bốn muôn ức các Đức Phật Thế Tôn đến nay vẫn chẳng ngớt. Các Tỳ kheo! Ta nói với các ông mười sáu vị Sa di đệ tử của Đức Phật kia nay đều chứng được đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, hiện đang nói pháp trong cõi nước ở mười phương có vô lượng trăm nghìn muôn ức Bồ tát Thanh văn để làm quyến thuộc. Hai vị Sa di làm Phật ở phương Đông: Vị thứ nhất tên là A Súc ở nước Hoa Hỷ, vị thứ hai tên là Tu Di Đỉnh. Hai vị làm Phật ở phương Đông Nam: Vị thứ nhứt tên là Sư Tử Âm, vị thứ hai tên là Sư Tử Tướng. Hai vị làm Phật ở phương Nam: Vị thứ nhứt tên là Hư Không Trụ, vị thứ hai tên là Thường Diệt. Hai vị làm Phật ở phương Tây Nam: Vị thứ nhứt tên là Đế Tướng, vị thứ hai tên là Phạm Tướng. Hai vị làm Phật ở phương Tây: Vị thứ nhứt tên là A Di Đà, vị thứ hai tên là Độ Nhứt Thiết Thế Gian Khổ Não. Hai vị làm Phật ở phương Tây Bắc: Vị thứ nhứt tên là Đa Ma La Bạt Chiên Đàn Hương Thần Thông, vị thứ hai tên là Tu Di Tướng. Hai vị làm Phật ở phương Bắc: Vị thứ nhứt tên là Vân Tự Tại, vị thứ hai tên là Vân Tự Tại Vương. Một vị làm Phật ở phương Đông Bắc hiệu Hoại Nhứt Thiết Thế Gian Bố Úy. Vị thứ mười sáu, chính ta là Thích Ca Mâu Ni Phật ở cõi nước Ta Bà thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Các Tỳ kheo! Lúc chúng ta làm Sa di mỗi người giáo hóa vô lượng trăm nghìn muôn ức hằng hà sa chúng sanh vì đạo vô thượng chánh đẳng, chánh giác theo ta nghe pháp. Những chúng sanh đó đến nay có người trụ bậc Thanh văn, ta thường giáo hóa pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Những bọn người này đáng dùng pháp đó mà lần vào Phật đạo. Vì sao? Vì trí huệ của Như Lai khó tin khó hiểu, vô lượng hằng hà sa chúng sanh bị hóa độ trong thuở đó chính là bọn ông, các Tỳ kheo, và sau khi ta diệt độ các đệ tử Thanh văn trong đời vị lai. Sau khi ta diệt độ, lại có đệ tử không nghe kinh này, không biết không hay hạnh của Bồ tát, tự ở nơi công đức của mình được tưởng cho là diệt độ sẽ nhập Niết bàn. Ta ở nơi nước khác làm Phật lại có tên khác. Người đó dầu sanh lòng tưởng là diệt độ nhập Niết bàn, nhưng ở nơi cõi kia cầu trí huệ của Phật, được nghe kinh này, chỉ do Phật thừa mà được diệt độ lại không có thừa nào khác, trừ các Đức Như Lai phương tiện nói pháp. Các Tỳ kheo! Nếu Đức Như Lai tự biết giờ Niết bàn sắp đến, chúng lại thanh tịnh lòng tin hiểu bền chắc, rõ thấu pháp không, sâu vào thiền định, bèn nhóm các Bồ tát và chúng Thanh văn mà vì nói kinh nầy. Trong đời không có hai thừa mà được diệt độ, chỉ có một Phật thừa được diệt độ thôi. Các Tỳ kheo nên rõ! Đức Như Lai phương tiện sâu vào tánh chúng sanh, biết chí nó ưa pháp nhỏ, rất ham nơi năm món dục vì hạng người này mà nói Niết bàn, người đó nếu nghe thời liền tin nhận. Thí dụ đường hiểm nhiều nạn dữ, dài năm trăm do tuần. Chốn ghê sợ hoang vắng không người. Nếu chúng đông muốn đi qua con đường nầy đến chỗ trân bửu, có một vị Đạo sư thông minh sáng suốt khéo biết rõ tướng thông bít của con đường hiểm, dắt chúng nhân muốn vượt qua nạn đó. Chúng nhân được dắt đi giữa đường lười mỏi bạch đạo sư rằng: Chúng con mệt nhọc lại thêm sợ sệt chẳng có thể đi nữa, đường trước còn xa nay muốn lui về. Vị Đạo sư nhiều sức phương tiện mà tự nghĩ rằng: Bọn này đáng thương, làm sao cam bỏ trân bảo lớn mà muốn lui về. Nghĩ thế rồi dùng sức phương tiện ở giữa đường hiểm quá ba trăm do tuần, hóa làm một cái thành mà bảo chúng nhân rằng: Các người chớ sợ, đừng lui về, nay thành lớn nầy có thể dừng ở trong đó tùy ý muốn làm gì thì làm, nếu vào thành nầy sẽ rất được an ổn, nếu có thể lại thẳng đến chỗ châu báu đi cũng được. Bấy giờ, chúng mỏi mệt rất vui mừng khen chưa từng có, chúng ta hôm nay khỏi được đường dữ rất được an ổn. Đó rồi chúng nhân thẳng vào hóa thành sanh lòng tưởng cho rằng đã được độ rất an ổn. Lúc ấy Đạo sư biết chúng nhơn đó đã được nghỉ ngơi không còn mỏi mệt, liền diệt hóa thành bảo chúng nhơn rằng: Các người nên đi tới, chỗ châu báu ở gần đây, thành lớn trước đó là của ta biến hóa ra để nghỉ ngơi thôi. Các Tỳ kheo! Đức Như Lai cũng lại như thế, nay vì các ông mà làm vị đại Đạo sư, biết các đường dữ sanh tử phiền não hiểm nạn dài xa nên vượt qua. Nếu như chúng sanh chỉ nghe một Phật thừa thời chẳng muốn thấy Phật, chẳng muốn gần gũi, mà nghĩ thế nầy: Đạo Phật dài xa lâu ngày chịu cần khổ mới có thể được thành. Phật biết tâm chúng đó khiếp nhược hạ liệt, dùng sức phương tiện mà ở giữa đường vì để ngơi nghỉ nên nói hai món Niết bàn. Nếu chúng sanh trụ nơi hai bực, Đức Như Lai bấy giờ liền bèn vì nói: Chỗ tu của các ông chưa xong, bậc của các ông ở gần với huệ của Phật. Phải quan sát suy lường Niết bàn đã được đó chẳng phải chân thật vậy. Chỉ là sức phương tiện của Như Lai, ở nơi một Phật thừa phân biệt nói thành ba. Như vị Đạo sư kia vì cho mọi người ngơi nghỉ mà hóa thành lớn, đã biết nghĩ xong mà bảo đó rằng: Chỗ châu báu ở gần, thành nầy không phải thật, của ta biến hóa làm ra đó thôi. Lúc đó Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng: Đại Thông Trí Thắng Phật Mười kiếp ngồi đạo tràng Phật pháp chẳng hiện tiền Chẳng được thành Phật đạo Các trời, thần, Long vương Chúng A tu la thảy Thường rưới các hoa trời Để cúng dường Phật đó Chư thiên đánh trống trời Và trổi các kỹ nhạc Gió thơm thổi hoa héo Lại mưa hoa tốt mới Quá mười tiểu kiếp rồi Mới được thành Phật đạo Các trời cùng người đời Lòng đều sanh hớn hở. Mười sáu người con Phật Đều cùng quyến thuộc mình Nghìn muôn ức vây quanh Chung đi đến chỗ Phật Đầu mặt lạy chân Phật Thỉnh Phật Chuyển pháp luân Đấng thánh sư mưa pháp Lợi con và tất cả Thế Tôn rất khó gặp Lâu xa một lần hiện Vì Giác ngộ quần sanh Mà chấn động tất cả. Các thế giới phương Đông Năm trăm muôn ức cõi Phạm cung điện sáng chói Từ xưa chưa từng có Phạm vương thấy tướng này Liền đến chỗ Phật ở Rải hoa để cúng dường Và dâng cung điện lên Thỉnh Phật Chuyển pháp luân Nói kệ khen ngợi Phật Phật biết chưa đến giờ Nhận thỉnh yên lặng ngồi Ba phương cùng bốn phía Trên, dưới cũng như thế Rưới hoa dâng cung điện Thỉnh Phật Chuyển pháp luân Thế Tôn rất khó gặp Nguyện vì bổn từ bi Rộng mở cửa cam lộ Chuyển pháp luân vô thượng. Thế Tôn huệ vô thượng Nhân chúng nhơn kia thỉnh Vì nói các món pháp Bốn đế, mười hai duyên Vô minh đến lão tử Đều từ sanh duyên hữu Những quá hoạn như thế Các ông phải nên biết Tuyên nói pháp đó rồi Sáu trăm muôn ức cai Được hết các ngằn khổ Đều thành A la hán. Thời nói pháp thứ hai Ngàn vạn hằng sa chúng Ở các pháp chẳng thọ Cũng được A la hán, Từ sau đây được đạo Số đông đến vô lượng Muôn ức kiếp tánh kể Không thể đặng ngằn mé. Bấy giờ mười sáu vị Xuất gia làm Sa di Đều đồng thỉnh Phật kia Diễn nói pháp Đại thừa: Chúng con cùng quyến thuộc Đều sẽ thành Phật đạo Nguyện được như Thế Tôn Huệ nhãn sạch thứ nhứt. Phật biết lòng đồng tử Chỗ làm của đời trước Dùng vô lượng nhân duyên Cùng các món thí dụ Nói sáu Ba la mật Và các việc thần thông, Phân biệt pháp chân thật Đạo của Bồ tát làm Nói kinh Pháp Hoa nầy Kệ nhiều như hằng sa. Phật kia nói kinh rồi Vào tịnh thất nhập định Tám vạn bốn ngàn kiếp Một lòng ngồi một chỗ. Các vị Sa di đó Biết Phật chưa xuất thiền Vì vô lượng chúng nói Huệ vô thượng của Phật Mỗi vị ngồi pháp tòa Nói kinh Đại thừa này Sau khi Phật yên lặng Tuyên bày giúp giáo hóa. Mỗi vị Sa di thảy Số chúng sanh mình độ Có sáu trăm muôn ức Hằng hà sa các chúng. Sau khi Phật diệt độ Các người nghe pháp đó Ở các nơi cõi Phật Thường cùng thầy sanh chung. Mười sáu Sa di đó Đầy đủ tu Phật đạo Nay hiện ở mười phương Đều được thành chánh giác Người nghe pháp thuở đó Đều ở chỗ các Phật Có người trụ Thanh văn Lần dạy cho Phật đạo. Ta ở số mười sáu Từng vì các ngươi nói Cho nên dùng phương tiện Dẫn dắt đến huệ Phật Do bản nhân duyên đó Nay nói kinh Pháp Hoa Khiến ngươi vào Phật đạo Dè dặt chớ kinh sợ. Thí như đường hiểm dữ Xa vắng nhiều thú độc Và lại không cỏ nước Chốn mọi người ghê sợ Vô số nghìn muôn chúng Muốn qua đường hiểm này Đường đó rất xa vời Trải năm trăm do tuần. Bấy giờ một Đạo sư Nhớ dai có trí huệ Sáng suốt lòng quyết định Đường hiểm cứu các nạn Mọi người đều mệt mỏi Mà bạch Đạo sư rằng: Chúng con nay mỏi mệt Nơi đây muốn trở về. Đạo sư nghĩ thế này: Bọn này rất đáng thương Làm sao muốn lui về Cam mất trân bảo lớn? Liền lại nghĩ phương tiện Nên bày sức thần thông Hóa làm thành quách lớn Các nhà cửa trang nghiêm Bốn bề có vườn rừng Sông ngòi và ao tắm Cửa lớn lầu gác cao Trai, gái đều đông vầy. Hóa ra thành đó rồi An ủi chúng: Chớ sợ Các ngươi vào thành này Đều được vừa chỗ muốn. Mọi người đã vào thành Lòng đều rất vui mừng Đều sanh tưởng an ổn Tự nói đã được độ. Đạo sư biết nghỉ xong Nhóm chúng mà bảo rằng: Các ngươi nên đi nữa Đây là hóa thành thôi Thấy các ngươi mỏi mệt Giữa đường muốn lui về Nên dùng sức phương tiện Ta hóa làm thành này Các ngươi gắng tinh tấn Nên đồng đến chỗ báu. Ta cũng lại như vậy Đạo sư của tất cả Thấy những người cầu đạo Giữa đường mà lười bỏ Không thể vượt đường dữ Sanh tử đầy phiền não Nên dùng sức phương tiện Vì nghỉ nói Niết bàn. Rằng các ngươi khổ diệt Chỗ làm đều đã xong Đã biết đến Niết bàn Đều chứng A la hán Giờ mới nhóm đại chúng Vì nói pháp chân thật Sức phương tiện các Phật Phân biệt nói ba thừa Chỉ có một Phật thừa Vì nghỉ nên nói hai Vì các ngươi nói thật Các ngươi chưa phải diệt, Vì nhứt thiết trí Phật Nên phát tinh tấn mạnh Ngươi chứng nhứt thiết trí Mười lực các Phật pháp Đủ băm hai tướng tốt Mới là chân thật diệt, Các Phật là Đạo sư Vì nghỉ nói Niết bàn Đã biết ngơi nghỉ rồi Dẫn vào nơi huệ Phật. NAM MÔ PHÁP HOA HỘI THƯỢNG PHẬT BỒ TÁT MA HA TÁT ――― Ghi chú của ADIDA: Chép nguyên văn từ nguồn: Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Việt dịch HT. Thích Trí Tịnh — daithua.com. Bản văn đang được Ban Cố vấn Giáo lý ADIDA thẩm định; khi có kết luận sẽ được cập nhật. Nam mô A Di Đà Phật.

Nghe tụng — các bản thu

Nguồn tham khảo

Bài liên quan