Phẩm 21 "Như Lai Thần Lực" trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, do ngài Cưu Ma La Thập dịch Hán văn, sau chuyển sang tiếng Việt. Phẩm ghi cảnh Đức Phật Thích Ca hiện thần lực vi diệu: phóng hào quang khắp mười phương, chấn động tam thiên đại thiên thế giới, để ấn chứng và trao phó bộ kinh tối thượng cho chư đại Bồ Tát, di huấn chánh pháp lưu truyền mãi về sau.
Giới thiệu & ý nghĩa
🔊 Nghe giải thích:
Phẩm 21 "Như Lai Thần Lực" nằm ở phần Bản Môn của Kinh Diệu Pháp Liên Hoa — tức là phần kinh nói về bản thể sâu xa và tuổi thọ vô lượng của Đức Phật. Đây là phẩm kết thúc chuỗi giáo pháp trọng yếu nhất của bộ kinh, mang ý nghĩa như một lễ ấn chứng long trọng trước khi Phật trao phó sứ mệnh hoằng pháp cho chư đại Bồ Tát.
Nguồn gốc: Bộ Kinh Diệu Pháp Liên Hoa do ngài Cưu Ma La Thập phụng dịch sang Hán văn vào thời Diêu Tần (năm 406 TL, đầu thế kỷ 5), được xem là bản dịch chuẩn mực nhất, lưu truyền rộng rãi tại các nước Phật giáo Bắc Truyền và Đại thừa, trong đó có Việt Nam.
Nội dung cốt lõi: Đức Phật Thích Ca hiện ra vô lượng thần lực — lè lưỡi dài rộng bao trùm lên tới cõi Phạm Thiên, phóng ánh sáng rực rỡ từ khắp lỗ chân lông, tằng hắng và khảy móng tay vang vọng chấn động khắp mười phương cõi. Các đức Phật ở mười phương cũng đồng hiện thần lực như vậy, như lời đồng xác nhận rằng Kinh Pháp Hoa là pháp bảo vô thượng.
Ý nghĩa sâu xa: "Như Lai Thần Lực" không đơn thuần là phép lạ bên ngoài. Theo hướng giảng giải của Hòa thượng Thích Thanh Từ, đây chính là trí tuệ Phật và Tri kiến Phật vốn sẵn có trong mỗi chúng sinh — khi người tu nhận ra và sống được với Tri kiến đó thì sẽ tự nhiên có được diệu dụng vô lượng. Người tu không nên chạy tìm thần thông bên ngoài, mà phải quay về nhận lại bản tâm thanh tịnh của chính mình.
Thông điệp trao phó: Chư đại Bồ Tát từ dưới đất vọt lên, cung kính phát nguyện: sau khi Phật nhập diệt sẽ gìn giữ và rộng truyền Kinh Pháp Hoa khắp các cõi nước. Phật dạy rằng nơi nào lưu giữ, đọc tụng, thọ trì kinh này thì nơi đó chính là Đạo Tràng — nơi chư Phật thành đạo — và công đức ấy "vô biên vô cùng tận, như mười phương hư không chẳng thể được ngằn mé." Kinh cũng dạy người thọ trì với tâm chí thành sẽ được chư Phật mười phương hộ niệm; còn lời nhắc thêm rằng kết quả tuỳ thuộc vào nhân duyên và sự thực hành của mỗi người là lời bình của người soạn, không phải nguyên văn kinh.
Gợi ý cho người nghe: Khi nghe phẩm kinh này, bà con hãy để tâm lắng lại, nhớ rằng ánh sáng của Phật luôn soi chiếu — và phần ánh sáng ấy cũng đang tiềm ẩn trong lòng mình; mỗi ngày giữ tâm lành, niệm Phật chí thành và thực hành đúng pháp, chính là đang nuôi dưỡng hạt giống Phật trong tự tâm.
Lời kinh
KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA
PHẨM 21: NHƯ LAI THẦN LỰC
Lúc bấy giờ, các vị Đại Bồ tát như số vi trần trong nghìn thế giới từ dưới đất vọt lên đó, đều ở trước Đức Phật một lòng chấp tay, chiêm ngưỡng dung nhan của Phật mà bạch cùng Phật rằng:
Thế Tôn! Sau khi Phật diệt độ, ở nơi cõi nước của đức Thế Tôn phân thân diệt độ, chúng con sẽ rộng nói kinh này.
Vì sao? Chúng con cũng tự muốn được pháp lớn thanh tịnh này để thọ trì, đọc tụng, giải nói, biên chép mà cúng dường đó.
Lúc đó, Thế Tôn ở trước Ngài Văn Thù Sư Lợi,… vô lượng trăm nghìn muôn ức vị Đại Bồ tát cửu trụ ở cõi Ta Bà và các Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu ba tắc, Ưu bà di, trời, rồng, Dạ xoa, Càn thát bà, A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la, Ma hầu la dà, nhơn, phi nhơn,… trước tất cả chúng, hiện sức thần thông lớn: bày tướng lưỡi rộng dài lên đến trời Phạm Thế, tất cả lỗ chân lông phóng ra vô lượng vô số tia sáng đủ màu sắc, thảy đều khắp soi cả cõi nước trong mười phương.
Các Đức Phật ngồi trên tòa sư tử dưới cây báu cũng lại như thế: bày tướng lưỡi rộng dài phóng vô lượng tia sáng.
Lúc Đức Thích Ca Mâu Ni Phật và các Đức Phật dưới cây báu hiện sức thần thông mãn trăm nghìn năm như vậy sau mới hoàn nhiếp tướng lưỡi, đồng thời tằng hắng cùng chung khảy móng tay, hai tiếng vang đó khắp đến cõi nước của các Đức Phật trong mười phương, đất đều sáu điệu vang động, chúng sanh trong đó: trời, rồng, Dạ xoa, Càn thát bà, A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la, Ma hầu la dà, nhơn, phi nhơn,… nhờ sức thần của Phật đều thấy trong cõi Ta Bà này vô lượng vô biên trăm nghìn muôn ức các Đức Phật ngồi trên tòa sư tử dưới những cây báu và thấy Đức Thích Ca Mâu Ni Phật cùng Đức Đa Bảo Như Lai, ngồi trên tòa sư tử trong tháp báu. Lại thấy vô lượng vô biên trăm nghìn muôn ức vị Đại Bồ tát và hàng tứ chúng cung kính vây quanh Đức Thích Ca Mâu Ni Phật, đã thấy thế rồi đều rất vui mừng được chưa từng có.
Tức thời hàng chư thiên ở giữa hư không lớn tiếng xướng rằng:
Cách đây vô lượng vô biên trăm nghìn muôn ức vô số thế giới có nước tên Ta Bà trong đó có Phật hiệu Thích Ca Mâu Ni hiện nay vì các Đại Bồ tát nói kinh Đại thừa tên Diệu Pháp Liên Hoa là pháp giáo hóa Bồ tát được chư Phật hộ niệm, các ông phải thâm tâm tùy hỷ, cũng nên lễ bái cúng dường Đức Thích Ca Mâu Ni Phật.
Các chúng sanh đó nghe tiếng nói giữa hư không rồi, chấp tay xoay về cõi Ta Bà nói thế này:
Nam Mô Thích Ca Mâu Ni Phật, Nam Mô Thích Ca Mâu Ni Phật.
Dùng các món hoa hương, chuỗi ngọc, phan lọng và các đồ trang nghiêm nơi thân, những vật tốt bằng trân báu, đều đồng vói rải vào cõi Ta Bà. Các vật rải đó từ mười phương đến thí như mây nhóm, biến thành màn báu trùm khắp trên Đức Phật ở trong đấy. Bấy giờ mười phương cõi nước thông đạt không ngại như một cõi Phật.
Khi đó, Phật bảo đại chúng bậc thượng hạnh Bồ tát thảy:
Thần lực của các Đức Phật vô lượng vô biên bất khả tư nghì như thế; nếu ta dùng thần lực đó trong vô lượng vô biên trăm nghìn muôn ức vô số kiếp, vì để chúc lụy mà nói công đức của kinh này vẫn chẳng hết được.
Tóm lại đó, tất cả pháp của Như Lai có, tất cả thần lực tự tại của Như Lai, tất cả tạng bí yếu của Như Lai, tất cả việc rất sâu của Như Lai, đều tuyên bài rõ nói trong kinh này, cho nên các ông sau khi Như Lai diệt độ, phải một lòng thọ trì, đọc tụng giải nói, biên chép, đúng như lời nói mà tu hành.
Cõi nước chỗ nào nếu có người thọ trì, đọc tụng, giải nói, biên chép, đúng như lời tu hành, hoặc là chỗ có quyển kinh, hoặc trong vườn, hoặc trong rừng, hoặc dưới cây, hoặc Tăng phường, hoặc nhà bạch y hoặc ở điện đường, hoặc núi hang đồng trống, trong đó đều nên dựng tháp cúng dường.
Vì sao? Phải biết chỗ đó, chính là đạo tràng, các Đức Phật ở đây mà được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, các Đức Phật ở đây mà nhập Niết bàn.
Lúc đó, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:
Các Phật, đấng cứu thế
Trụ trong thần thông lớn
Vì vui đẹp chúng sanh
Hiện vô lượng thần lực:
Tướng lưỡi đến Phạm Thiên
Thân phóng vô số quang
Vì người cầu Phật đạo
Hiện việc ít có này.
Tiếng tằng hắng của Phật
Cùng tiếng khảy móng tay
Khắp vang mười phương cõi
Đất đều sáu món động.
Sau khi Phật diệt độ
Người trì được kinh này
Các Phật đều vui mừng
Hiện vô lượng thần lực.
Vì chúc lụy kinh này
Khen ngợi người thọ trì
Ở trong vô lượng kiếp
Vẫn còn chẳng hết được.
Công đức của người đó
Vô biên vô cùng tận
Như mười phương hư không
Chẳng thể được ngằn mé.
Người trì được kinh này
Thời là đã thấy Ta
Cũng thấy Phật Đa Bảo
Và các Phật phân thân.
Lại thấy ta ngày nay
Giáo hóa các Bồ tát
Người trì được kinh này
Khiến ta và phân thân
Phật Đa Bảo diệt độ
Tất cả đều vui mừng.
Mười phương Phật hiện tại
Cùng quá khứ vị lai
Cũng thấy cũng cúng dường
Cũng khiến đặng vui mừng.
Các Phật ngồi đạo tràng
Pháp bí yếu đã được.
Người trì đọc kinh này
Chẳng lâu cũng sẽ được
Người trì được kinh này
Nơi nghĩa của các pháp
Danh tự và lời lẽ
Ưa nói không cùng tận.
Như gió trong hư không
Tất cả không chướng ngại.
Sau khi Như Lai diệt
Biết kinh của Phật nói
Nhân duyên và thứ đệ
Theo nghĩa nói như thật.
Như ánh sáng nhật nguyệt
Hay trừ các tối tăm
Người đó đi trong đời
Hay dứt tối chúng sanh
Dạy vô lượng Bồ tát
Rốt ráo trụ nhứt thừa.
Cho nên người có trí
Nghe công đức lợi này
Sau khi ta diệt độ
Nên thọ trì kinh này
Người đó ở Phật đạo
Quyết định không có nghi.
NAM MÔ PHÁP HOA HỘI THƯỢNG PHẬT BỒ TÁT MA HA TÁT
―――
Ghi chú của ADIDA: Chép nguyên văn từ nguồn: Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Việt dịch HT. Thích Trí Tịnh — daithua.com. Bản văn đang được Ban Cố vấn Giáo lý ADIDA thẩm định; khi có kết luận sẽ được cập nhật. Nam mô A Di Đà Phật.