Kinh tụng

Kinh Phổ Môn

🎧 Nghe bài này

Kinh Phổ Môn — phẩm thứ 25 trong bộ Pháp Hoa, do Pháp Sư Cưu-ma-la-thập dịch sang Hán văn thời Diêu Tần, Hòa thượng Thích Trí Tịnh dịch sang tiếng Việt — nói về hạnh nguyện cứu khổ vô biên của Bồ Tát Quán Thế Âm. Phật tử Tịnh Độ tông thường trì tụng kinh này để nương tựa vào lòng từ bi và đại nguyện của Ngài trên đường tu học.

Giới thiệu & ý nghĩa

🔊 Nghe giải thích:

Kinh Phổ Môn — tên đầy đủ "Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Phẩm Phổ Môn Quán Thế Âm Bồ Tát" — vốn là phẩm thứ 25 trong bộ kinh Diệu Pháp Liên Hoa (Kinh Pháp Hoa), một trong những bộ kinh Đại thừa quan trọng nhất. "Phổ Môn" có nghĩa là "cửa cùng khắp" — cửa từ bi rộng mở cho tất cả chúng sinh, không bỏ sót một ai.

Pháp Sư Cưu-ma-la-thập — một trong những vị dịch kinh lớn nhất lịch sử Phật giáo — đã chuyển dịch từ Phạn sang Hán văn vào khoảng thế kỷ thứ V, thời Diêu Tần. Bản Việt dịch phổ biến hiện nay là của Hòa thượng Thích Trí Tịnh. Vì tín ngưỡng Bồ Tát Quán Thế Âm lan rộng, phẩm này dần được tách riêng thành "Kinh Phổ Môn" để bà con tiện tụng đọc hằng ngày.

Nội dung kinh là cuộc đối thoại giữa Đức Phật và Bồ Tát Vô Tận Ý: Đức Phật giảng rõ vì sao Ngài được gọi là Quán Thế Âm (lắng nghe tiếng kêu của thế gian), rồi nói về các ứng hóa thân — Ngài có thể hiện thân dưới mọi hình tướng để tuỳ duyên hoá độ — và những sức mạnh vô uý mà Ngài ban cho chúng sinh.

Theo kinh dạy, người chí tâm xưng niệm danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm khi gặp hoạn nạn sẽ được Ngài lắng nghe và tìm cách ứng cứu; tuy nhiên, kết quả tuỳ thuộc vào tâm chí thành và nhân duyên của mỗi người — kinh không dạy đây là phép màu tức thì hay thay thế cho việc tu học, giữ giới và làm lành.

Điểm cốt lõi của Phổ Môn là tinh thần bi nguyện "tuỳ loại hoá độ" — Bồ Tát không phân biệt sang hèn, không đòi hỏi lễ vật, chỉ cần tâm chân thành. Kinh còn nhắc bà con học theo hạnh Ngài: nuôi dưỡng lòng từ bi, biết lắng nghe nỗi khổ của người xung quanh.

Người tu Tịnh Độ thường tụng Kinh Phổ Môn như một thời công phu để gieo duyên với Bồ Tát, củng cố lòng tin, và nhắc nhở bản thân sống theo hạnh từ bi trong từng ngày. Nghe kinh với tâm bình lặng, hiểu lời kinh, rồi đem tinh thần ấy vào cuộc sống mà phụng hành — đó là cách hành trì trọn vẹn nhất.

Lời kinh

NGHI THỨC TỤNG KINH PHỔ MÔN (trọn bộ) NGHI THỨC KHAI KINH PHỔ MÔN 1. DÂNG HƯƠNG Nguyện đem lòng thành kính Gởi theo đám mây hương Phảng phất khắp mười phương Cúng dường ngôi Tam bảo Thề trọn đời giữ đạo Theo tự tánh làm lành Cùng pháp giới chúng sanh Cầu Phật từ gia hộ Tâm Bồ đề kiên cố Chí tu học vững bền Xa bể khổ nguồn mê Chóng quay về bờ giác Nam mô Hương Cúng Dường Bồ Tát Nam mô Hương Cúng Dường Bồ Tát Nam mô Hương Cúng Dường Bồ Tát 2. BẠCH PHẬT Hôm nay là ngày......tháng......năm..............đệ tử chúng con phát nguyện trì tụng Kinh Phổ Môn, nguyện khắp mười phương ba ngôi Tam Bảo, Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật, Đức Thích Ca Mâu Ni Phật, Đức Tiếp dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật, Đức Quán Thế Âm Bồ Tát cùng chư Bồ Tát, chư Hiền Thánh Tăng từ bi chứng minh, gia hộ cho đệ tử chúng con tâm Bồ đề kiên cố, chí tu học vững bền, xa bể khổ nguồn mê, chóng quay về bờ giác. Lại nguyện cầu chư Phật phóng quang tiếp độ cửu huyền thất tổ, cha mẹ nhiều đời của đệ tử chúng con, cùng tất cả chúng sinh sớm rõ đường lành, thoát vòng mê muội, vượt khỏi u đồ, siêu sanh Tịnh Độ Nam mô Chứng Minh Sư Bồ Tát Ma Ha Tát. Nam mô Chứng Minh Sư Bồ Tát Ma Ha Tát. Nam mô Chứng Minh Sư Bồ Tát Ma Ha Tát. 3. XƯNG TÁN ĐỨC PHẬT Đấng pháp vương vô thượng, ba cõi chẳng ai bằng. Thầy dạy khắp trời người, cha lành chung bốn loại. Quy y trọn một niệm, dứt sạch nghiệp ba kỳ. Xưng dương cùng tán thán, ức kiếp không cùng tận. 4. QUÁN TƯỞNG Phật, chúng sanh tánh thường rỗng lặng Đạo cảm thông không thể nghĩ bàn Lưới đế châu ví đạo tràng Mười phương Phật bảo hào quang sáng ngời Trước bảo tọa thân con ảnh hiện Cúi đầu xin thệ nguyện quy y (1 tiếng chuông, 1 xá) 5. ĐẢNH LỄ TAM BẢO Chí tâm đảnh lễ: Nam mô tận hư không biến pháp giới quá, hiện, vị lai Thập phương chư Phật, Tôn Pháp, Hiền Thánh Tăng thường trụ Tam Bảo (1 lạy). Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Ta-bà giáo chủ điều ngự Bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, Đương lai hạ sinh Di-lặc tôn Phật, Đại trí Văn-thù Sư-lợi Bồ-tát, Đại hạnh Phổ Hiền Bồ-tát, Hộ pháp chư tôn Bồ-tát, Linh Sơn hội thượng Phật Bồ-tát (1 lạy). Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Tây Phương Cực Lạc thế giới Đại từ Đại bi A-di-đà Phật, Đại bi Quán Thế Âm Bồ-tát, Đại Thế Chí Bồ-tát, Đại nguyện Địa Tạng Vương Bồ-tát, Thanh tịnh đại hải chúng Bồ-tát (1 lạy). 6. CHƠN NGÔN TỊNH PHÁP GIỚI Án lam (7 lần) 7. TỊNH KHẨU NGHIỆP CHƠN NGÔN Tu rị tu rị, ma ha tu rị tu tu rị, ta bà ha Tu rị tu rị, ma ha tu rị tu tu rị, ta bà ha Tu rị tu rị, ma ha tu rị tu tu rị, ta bà ha 8. TỊNH TAM NGHIỆP CHƠN NGÔN Án ta phạ bà phạ, thuật đà ta phạ, đạt ma ta phạ, bà phạ thuật độ hám Án ta phạ bà phạ, thuật đà ta phạ, đạt ma ta phạ, bà phạ thuật độ hám Án ta phạ bà phạ, thuật đà ta phạ, đạt ma ta phạ, bà phạ thuật độ hám 9. ÁN THỔ ĐỊA CHƠN NGÔN Nam mô tam mãn đa một đà nẫm, án độ rô độ rô, địa vĩ tát bà ha Nam mô tam mãn đa một đà nẫm, án độ rô độ rô, địa vĩ tát bà ha Nam mô tam mãn đa một đà nẫm, án độ rô độ rô, địa vĩ tát bà ha 10. PHỔ CÚNG DƯỜNG CHƠN NGÔN Án nga nga nẵng tam bà phạ phiệt nhựt ra hồng Án nga nga nẵng tam bà phạ phiệt nhựt ra hồng Án nga nga nẵng tam bà phạ phiệt nhựt ra hồng 11. TÁN DƯƠNG CHI Đầu cành dương liễu vương cam lộ Một giọt mười phương rưới cũng vừa Bao nhiêu trần lụy tiêu tan hết Đàn tràng thanh tịnh ở ngay đây Liễu biếc phất bày muôn thế giới Sen hồng nở hé vạn lâu đài Cúi đầu ca ngợi dâng hương ngát Xin nguyện Từ Bi ứng hiện ngay Nam mô Thanh Lương Địa Bồ Tát Nam mô Thanh Lương Địa Bồ Tát Nam mô Thanh Lương Địa Bồ Tát 12. CHÚ ĐẠI BI Nam-Mô Đại Bi hội thượng Phật, Bồ tát Nam-Mô Đại Bi hội thượng Phật, Bồ tát Nam-Mô Đại Bi hội thượng Phật, Bồ tát Thiên thủ thiên nhãn, vô ngại đại bi tâm, đà la ni. Nam-Mô hắc ra đát na, đa ra dạ da. Nam-Mô a lị da, bà lô kiết đế, thước bát ra da. Bồ đề tát đỏa bà da. Ma ha tát đỏa bà da. Ma ha ca lô ni ca da. Án tát bàn ra phạt duệ, số đát na đát tỏa. Nam-Mô tất kiết lật đỏa y mông, a dị da bà lô kiết đế, thất Phật ra lăng đà bà. Nam-Mô na ra cẩn trì, hê lị ma ha bàn đà sa mế. Tát bà a tha đậu thâu bằng a thệ dựng, tát ba tát đá, na ma bà dà, ma phạt đạt đậu, đát điệt tha. An a bà lô hê lô ca đế, ca ra đế, di hê lị. Ma ha bồ đề tát đỏa, tát bà tát bà, ma ra ma ra, ma hê ma hê lị đà dựng. Câu lô câu lô kiết mông. Độ lô độ lô phạt xà da đế, ma ha phạt xa da đế. Đà ra đà ra địa ri ni, thất phật ra da. Giá ra giá ra. Mạ mạ phạt ma ra, mục đế lệ. Y hê di hê, thất na thất na, a ra sâm phật ra xá lợi, phạt sa phạt sâm. Phật ra xá da. Hô lô hô lô, ma ra hô lô hô lô hê rị. Ta ra ta ra, tất rị tất rị, tô rô tô rô. Bồ đề dạ, bồ đề dạ, bồ đà dạ, bồ đà dạ. Di đế rị dạ. Na ra cẩn trì địa rị sắc ni na. Ba dạ ma na, ta bà ha. Tất đà dạ ta bà ha, Ma ha tất đà dạ ta bà ha. Tất đà du nghệ thất bàn ra da, ta bà ha. Na ra cẩn trì, ta bà ha. Ma ra na ra ta bà ha. Tất ra tăng a mục khư da ta bà ha, ta bà ma ha a tất đà dạ ta bà ha. Giả kiết ra a tất đà dạ ta bà ha. Ba đà ma yết tất đà dạ, ta bà ha. Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ, ta bà ha. Ma bà lị thắng kiết ra dạ, ta bà ha. Nam-Mô hắc ra đát na đa ra dạ da. Nam-Mô a lị da bà lô kiết đế, thước bàn ra dạ ta bà ha. Án tất điện đô, mạn đa ra, bạt đà dạ, ta bà ha. Án tất điện đô, mạn đa ra, bạt đà dạ, ta bà ha. Án tất điện đô, mạn đa ra, bạt đà dạ, ta bà ha. Nam mô Thập phương Thường trụ Tam bảo Nam mô Thập phương Thường trụ Tam bảo Nam mô Thập phương Thường trụ Tam bảo 13. VĂN PHÁT NGUYỆN Lạy đấng Tam Giới Tôn Quy mạng mười phương Phật Nay con phát nguyện rộng Thọ trì Kinh Phổ Môn Trên đền bốn ơn nặng Dưới cứu khổ muôn loài Đều phát lòng Bồ Đề Khi mãn báo thân này Sanh qua cõi Cực Lạc Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật 14. KỆ KHAI KINH Phật pháp cao siêu rất nhiệm màu Trăm ngàn muôn kiếp khó tìm cầu Con nay nghe thấy chuyên trì niệm Nguyện hiểu Như Lai nghĩa nhiệm màu Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát KINH PHỔ MÔN Lúc bấy giờ, Ngài Vô Tận Ý Bồ tát liền từ chỗ ngồi đứng dậy trịch áo bày vai hữu, chấp tay hướng Phật mà bạch rằng: Thế Tôn! Ngài Quán Thế Âm Bồ tát do nhân duyên gì mà tên là Quán Thế Âm? Phật bảo ngài Vô Tận Ý Bồ tát: Thiện nam tử! Nếu có vô lượng trăm nghìn muôn ức chúng sanh chịu các khổ não, nghe Quán Thế Âm Bồ tát này một lòng xưng danh. Quán Thế Âm Bồ tát tức thì xem xét tiếng tăm kia, đều được giải thoát. Nếu có người trì danh hiệu Quán Thế Âm Bồ tát này, dầu vào trong lửa lớn, lửa chẳng cháy được, vì do sức uy thần của Bồ tát này được như vậy. Nếu bị nước lớn làm trôi, xưng danh hiệu Bồ tát này liền được chỗ cạn. Nếu có trăm nghìn muôn ức chúng sanh vì tìm vàng, bạc, lưu ly, xà cừ, mã não, san hô, hổ phách, trân châu các thứ báu, vào trong biển lớn, giả sử gió lớn thổi ghe thuyền của kia trôi tắp nơi nước quỷ La sát, trong ấy nếu có nhẫn đến một người xưng danh hiệu Quán Thế Âm Bồ tát, thì các người đó đều được thoát khỏi nạn quỷ La sát. Do nhân duyên đó mà tên là Quán Thế Âm. Nếu lại có người sắp sẽ bị hại, xưng danh hiệu Quán Thế Âm Bồ tát, thì dao gậy của người cầm liền gãy từng khúc, người ấy liền được thoát khỏi. Nếu quỉ Dạ xoa cùng La sát đầy trong cõi Tam thiên Đại thiên muốn đến hại người, nghe người xưng hiệu Quán Thế Âm Bồ tát, thì các quỉ dữ đó còn không thể dùng mắt dữ mà nhìn người, huống lại làm hại được. Dầu lại có người hoặc có tội, hoặc không tội, gông cùm xiềng xích trói buộc nơi thân, xưng danh hiệu Quán Thế Âm Bồ tát thảy đều đứt rã, liền được thoát khỏi. Nếu kẻ oán tặc đầy trong cõi Tam thiên Đại thiên, có một vị thương chủ dắt các người buôn đem theo nhiều của báu, trải qua nơi đường hiểm trở, trong đó có một người xướng rằng: Các Thiện nam tử! Chớ nên sợ sệt, các ông nên phải một lòng xưng danh hiệu Quán Thế Âm Bồ tát, vị Bồ tát đó hay đem pháp vô úy thí cho chúng sanh, các ông nếu xưng danh hiệu thì sẽ được thoát khỏi oán tặc nầy. Các người buôn nghe rồi, đều lên tiếng xưng rằng: Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát! Vì xưng danh hiệu Bồ tát nên liền được thoát khỏi. Vô Tận Ý! Quán Thế Âm Bồ tát sức oai thần to lớn như thế. Nếu có chúng sanh nào nhiều lòng dâm dục, thường cung kính niệm Quán Thế Âm Bồ tát, liền được ly dục. Nếu người nhiều giận hờn, thường cung kính niệm Quán Thế Âm Bồ tát, liền được lìa lòng giận. Nếu người nhiều ngu si, thường cung kính niệm Quán Thế Âm Bồ tát, liền được lìa ngu si. Vô Tận Ý! Quán Thế Âm Bồ tát có những sức oai thần lớn, nhiều lợi ích như thế, cho nên chúng sanh thường phải một lòng tưởng nhớ. Nếu có người nữ, giả sử muốn cầu con trai, lễ lạy cúng dường Quán Thế Âm Bồ tát, liền sanh con trai phúc đức trí huệ; giả sử muốn cầu con gái, bèn sanh con gái có tướng xinh đẹp, trước đã trồng gốc phước đức, mọi người đều kính mến. Vô Tận Ý! Quán Thế Âm Bồ tát có sức thần như thế. Nếu có chúng sanh cung kính lễ lạy Quán Thế Âm Bồ tát, thì phước đức chẳng luống mất. Cho nên chúng sanh đều phải thọ trì danh hiệu Quán Thế Âm Bồ tát. Vô Tận Ý! Nếu có người thọ trì danh tự của 62 ức hằng hà sa Bồ tát lại trọn đời cúng dường đồ ăn uống y phục, giường nằm, thuốc thang. Ý ông nghĩ sao? Công đức của người Thiện nam tử, Thiện nữ nhơn đó có nhiều chăng? Vô Tận Ý thưa: Bạch Thế Tôn! Rất nhiều. Phật nói: Nếu lại có người thọ trì danh hiệu Quán Thế Âm Bồ tát, nhẫn đến một thời lễ lạy cúng dường, thì phước của hai người đó bằng nhau không khác, trong trăm nghìn ức kiếp không thể cùng tận. Vô Tận Ý! Thọ trì danh hiệu Quán Thế Âm Bồ tát được vô lượng vô biên phước đức lợi ích như thế. Ngài Vô Tận Ý Bồ tát bạch Phật rằng: Thế Tôn! Quán Thế Âm Bồ tát dạo đi trong cõi Ta Bà như thế nào? Sức phương tiện đó như thế nào? Phật bảo Vô Tận Ý Bồ tát: Thiện nam tử! Nếu có chúng sanh trong quốc độ nào đáng dùng thân Phật được độ thoát thời Quán Thế Âm Bồ tát liền hiện thân Phật vì đó nói pháp. Người đáng dùng thân Duyên giác được độ thoát, liền hiện thân Duyên giác mà vì đó nói pháp. Người đáng dùng thân Thanh văn được độ thoát, liền hiện thân Thanh văn mà vì đó nói pháp. Người đáng dùng thân Phạm vương được độ thoát, liền hiện thân Phạm vương mà vì đó nói pháp. Người đáng dùng thân Đế Thích được độ thoát, liền hiện thân Đế Thích mà vì đó nói pháp. Người đáng dùng thân Tự Tại Thiên được độ thoát, liền hiện thân Tự Tại Thiên mà vì đó nói pháp. Người đáng dùng thân Đại Tự Tại Thiên được độ thoát, liền hiện thân Đại Tự Tại Thiên mà vì đó nói pháp. Người đáng dùng thân Thiên Đại Tướng quân được độ thoát, liền hiện thân Thiên Đại Tướng quân mà vì đó nói pháp. Người đáng dùng thân Tỳ Sa Môn được độ thoát, liền hiện thân Tỳ Sa Môn mà vì đó nói pháp. Người đáng dùng thân tiểu vương được độ thoát, liền hiện thân tiểu vương mà vì đó nói pháp. Người đáng dùng thân trưởng giả được độ thoát, liền hiện thân trưởng giả mà vì đó nói pháp. Người đáng dùng thân cư sĩ được độ thoát, liền hiện thân cư sĩ mà vì đó nói pháp. Người đáng dùng thân tể quan được độ thoát, liền hiện thân tể quan mà vì đó nói pháp. Người đáng dùng thân Bà la môn được độ thoát, liền hiện thân Bà la môn mà vì đó nói pháp. Người đáng dùng thân Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di được độ thoát, liền hiện thân Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di mà vì đó nói pháp. Người đáng dùng thân phụ nữ của trưởng giả, cư sĩ, tể quan, Bà la môn được độ thoát, liền hiện thân phụ nữ mà vì đó nói pháp. Người đáng dùng thân đồng nam, đồng nữ được độ thoát, liền hiện thân đồng nam, đồng nữ mà vì đó nói pháp. Người đáng dùng thân trời, rồng, Dạ xoa, Càn thát bà, A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la, Ma hầu la dà, nhơn cùng phi nhơn được độ thoát, liền đều hiện ra mà vì đó nói pháp. Người đáng dùng thân Chấp Kim Cang thần được độ thoát, liền hiện thân Chấp Kim Cang thần mà vì đó nói pháp. Vô Tận Ý! Quán Thế Âm Bồ tát đó thành tựu công đức như thế, dùng các thân hình, dạo đi trong các cõi nước để độ thoát chúng sanh, cho nên các ông phải một lòng cúng dường Quán Thế Âm Bồ tát. Quán Thế Âm Đại Bồ tát đó ở trong chỗ nạn gấp sợ sệt hay ban sự vô úy, cho nên cõi Ta Bà này đều gọi Ngài là vị Thí vô úy. Vô Tận Ý Bồ tát bạch Phật: Thế Tôn! Con nay phải cúng dường Quán Thế Âm Bồ tát. Liền mở chuỗi ngọc bằng các châu báu nơi cổ giá trị trăm nghìn lạng vàng, đem trao cho ngài Quán Thế Âm mà nói rằng: Xin Ngài nhận chuỗi trân bảo pháp thí này. Khi ấy Quán Thế Âm Bồ tát chẳng chịu nhận chuỗi. Ngài Vô Tận Ý lại thưa cùng Quán Thế Âm Bồ tát rằng: Xin Ngài vì thương chúng tôi mà nhận chuỗi ngọc này. Bấy giờ Phật bảo Quán Thế Âm Bồ tát: Ông nên thương Vô Tận Ý Bồ tát này và hàng tứ chúng cùng trời, rồng, Dạ xoa, Càn thát bà, A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la, Ma hầu la dà, nhơn và phi nhơn,… mà nhận chuỗi ngọc đó. Tức thời Quán Thế Âm Bồ tát thương hàng tứ chúng và trời, rồng, nhơn, phi nhơn,… mà nhận chuỗi ngọc đó chia làm hai phần: một phần dâng Đức Thích Ca Mâu Ni Phật, một phần dâng tháp của Phật Đa Bảo. Vô Tận Ý! Quán Thế Âm Bồ tát có sức thần tự tại như thế, dạo đi nơi cõi Ta Bà. Lúc đó, ngài Vô Tận Ý Bồ tát nói kệ hỏi Phật rằng: Thế Tôn đủ tướng tốt! Con nay lại hỏi kia Phật tử nhân duyên gì? Tên là Quán Thế Âm? Đấng đầy đủ tướng tốt Kệ đáp Vô Tận Ý: Ông nghe hạnh Quán Âm Khéo ứng các nơi chỗ Thệ rộng sâu như biển Nhiều kiếp chẳng nghĩ bàn Hầu nhiều nghìn Đức Phật Phát nguyện thanh tịnh lớn. Ta vì ông lược nói Nghe tên cùng thấy thân Tâm niệm chẳng luống qua Hay diệt khổ các cõi. Giả sử sanh lòng hại Xô rớt hầm lửa lớn Do sức niệm Quán Âm Hầm lửa biến thành ao. Hoặc trôi dạt biển lớn Các nạn quỷ, cá, rồng Do sức niệm Quán Âm Sóng mòi chẳng chìm được. Hoặc ở chót Tu Di Bị người xô rớt xuống Do sức niệm Quán Âm Như mặt nhật treo không Hoặc bị người dữ rượt Rớt xuống núi Kim Cang Do sức niệm Quán Âm Chẳng tổn đến mảy lông. Hoặc gặp oán tặc vây Đều cầm dao làm hại Do sức niệm Quán Âm Đều liền sanh lòng lành. Hoặc bị khổ nạn vua Khi hành hình sắp chết Do sức niệm Quán Âm Dao liền gãy từng đoạn. Hoặc tù cấm xiềng xích Tay chân bị gông cùm Do sức niệm Quán Âm Tháo rã được giải thoát Nguyền rủa các thuốc độc muốn hại đến thân đó Do sức niệm Quán Âm Trở hại nơi bổn nhân. Hoặc gặp La sát dữ Rồng độc các loài quỉ Do sức niệm Quán Âm Liền đều không dám hại. Hoặc thú dữ vây quanh Nanh vuốt nhọn đáng sợ Do sức niệm Quán Âm Vội vàng bỏ chạy thẳng. Rắn độc cùng bò cạp Hơi độc khói lửa đốt Do sức niệm Quán Âm Theo tiếng tự bỏ đi. Mây sấm nổ sét đánh Tuôn giá, xối mưa lớn Do sức niệm Quán Âm Liền được tiêu tan cả. Chúng sanh bị khổ ách Vô lượng khổ bức thân Quán Âm sức trí diệu Hay cứu khổ thế gian Đầy đủ sức thần thông Rộng tu trí phương tiện Các cõi nước mười phương Không cõi nào chẳng hiện. Các loài trong đường dữ: Địa ngục, quỉ, súc sanh Sanh, già, bịnh, chết khổ Lần đều khiến dứt hết. Chơn quán thanh tịnh quán Trí huệ quán rộng lớn Bi quán và từ quán, Thường nguyện thường chiêm ngưỡng Sáng thanh tịnh không nhơ Huệ nhật phá các tối Hay phục tai khói lửa Khắp soi sáng thế gian. Lòng bi răn như sấm Ý Từ diệu dường mây Xối mưa pháp cam lồ Dứt trừ lửa phiền não Cãi kiện qua chỗ quan Trong quân trận sợ sệt Do sức niệm Quán Âm Cừu oán đều lui tan. Diệu Âm, Quán Thế Âm Phạm âm, Hải triều âm Tiếng hơn thế gian kia, Cho nên thường phải niệm. Niệm niệm chớ sanh nghi Quán Âm bậc tịnh thánh Nơi khổ não nạn chết Hay vì làm nương cậy. Đủ tất cả công đức Mắt lành trông chúng sanh Biển phước lớn không lường Cho nên phải đảnh lễ. Bấy giờ, Ngài Trì Địa Bồ tát liền từ chỗ ngồi đứng dậy đến trước Phật bạch rằng: Thế Tôn! Nếu có chúng sanh nào nghe phẩm Quán Thế Âm Bồ Tát Đạo Nghiệp Tự Tại Phổ Môn Thị Hiện, sức thần thông nầy thì phải biết công đức người đó chẳng ít. Lúc Phật nói phẩm Phổ Môn này, trong chúng có tám muôn bốn nghìn chúng sanh đều phát tâm vô đẳng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. LỤC TỰ ĐẠI MINH CHƠN NGÔN Án ma ni bát di hồng. (108 lần) (C) HỒI HƯỚNG 1. XƯNG TÁN ĐỨC QUÁN THẾ ÂM Phổ môn thị hiện Cứu khổ nhân sinh Thuyền từ lướt sóng Bốn biển điêu linh Trùng dương vọng tiếng hồn kinh Quán Âm ứng hiện chúng sinh thoát nàn. Nam mô Thánh Quan Tự Tại Bồ-tát Ma-ha-tát. Nam mô Thánh Quan Tự Tại Bồ-tát Ma-ha-tát. Nam mô Thánh Quan Tự Tại Bồ-tát Ma-ha-tát. 2. MƯỜI HAI LỜI NGUYỆN CỦA BỒ TÁT QUÁN ÂM - Chí tâm đảnh lễ: Khi hành Bồ-tát, danh hiệu tôi Tự Tại Quán Âm, viên thông thanh tịnh căn trân, nơi nào đau khổ tầm thanh cứu liền. Nam mô Quán Thế Âm Bồ-tát. (Lạy 1 lạy) - Chí tâm đảnh lễ: Không nài gian khổ, quyết một lòng cứu độ chúng sanh, luôn luôn thị hiện biển Đông, vớt người chìm đắm khi dông gió nhiều. Nam mô Quán Thế Âm Bồ-tát. (Lạy 1 lạy) - Chí tâm đảnh lễ: Ta-bà ứng hiện, chốn u minh nhiều chuyện khổ đau, oan gia tương báo hại nhau, nghe tiếng than thở mau mau cứu liền. Nam mô Quán Thế Âm Bồ-tát. (Lạy 1 lạy) - Chí tâm đảnh lễ: Thanh trừ yêu ái, bao nhiêu loài ma quỷ gớm ghê, độ cho chúng hết u mê, dứt trừ nguy hiểm không hề nhiễu nhương. Nam mô Quán Thế Âm Bồ-tát. (Lạy 1 lạy) - Chí tâm đảnh lễ: Tay cầm dương liễu nước cam lồ rưới mát nhân thiên, chúng sanh điên đảo đảo điên, an vui mát mẻ ưu phiền tiêu tan. Nam mô Quán Thế Âm Bồ-tát. (Lạy 1 lạy) - Chí tâm đảnh lễ: Thường hành bình đẳng, lòng từ bi thương xót chúng sanh, hỷ xả tất cả lỗi lầm, không còn phân biệt sơ, thân, mọi loài. Nam mô Quán Thế Âm Bồ-tát. (Lạy 1 lạy) - Chí tâm đảnh lễ: Dứt ba đường dữ, chốn ngục hình ngạ quỷ, súc sanh, cọp beo, thú dữ vây quanh, Quán Âm thị hiện chúng sanh thoát nàn. Nam mô Quán Thế Âm Bồ-tát (Lạy 1 lạy) - Chí tâm đảnh lễ: Tội nhân bị trói, bị hành hình rồi lại khảo tra, thành tâm lễ bái thiết tha, Quán Âm phù hộ thoát ra nhẹ nhàng. Nam mô Quán Thế Âm Bồ-tát. (Lạy 1 lạy) - Chí tâm đảnh lễ: Làm thuyền cứu vớt, giúp cho người vượt khúc lênh đênh, bốn bề biển khổ chông chênh, Quán Âm độ hết an nhiên Niết-bàn. Nam mô Quán Thế Âm Bồ-tát. (Lạy 1 lạy) - Chí tâm đảnh lễ: Tây phương tiếp dẫn, vòng hoa thơm, kỹ nhạc, lọng tàn, tràng phang, bảo cái trang hoàng, Quán Âm cứu độ đưa đường về Tây. Nam mô Quán Thế Âm Bồ-tát. (Lạy 1 lạy) - Chí tâm đảnh lễ: Di Đà thọ ký, cảnh phương tuổi thọ khôn lường, chúng sanh muốn sống miên trường, Quán Âm nhớ niệm Tây phương mau về. Nam mô Quán Thế Âm Bồ-tát. (Lạy 1 lạy) - Chí tâm đảnh lễ: Tu hành tinh tấn, dù thân này tan nát cũng đành, thành tâm nỗ lực thực hành, mười hai câu nguyện độ sanh đời đời. Nam mô Quán Thế Âm Bồ-tát. (Lạy 1 lạy) 3. BÁT NHÃ TÂM KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA TÂM KINH Quán Tự Tại Bồ-tát hành thâm Bát-nhã Ba-la-mật-đa thời chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách. Xá Lợi Tử! Sắc bất dị không, không bất dị sắc; sắc tức thị không, không tức thị sắc; thọ, tưởng, hành, thức diệc phục như thị. Xá Lợi Tử! Thị chư pháp không tướng, bất sanh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm. Thị cố không trung, vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức; vô nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân, ý; vô sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; vô nhãn giới, nãi chí vô ý thức giới, vô vô minh, diệc vô vô minh tận, nãi chí vô lão tử, diệc vô lão tử tận; vô Khổ, Tập, Diệt, Đạo; vô trí diệc vô đắc. Dĩ vô sở đắc cố, Bồ-đề tát đỏa y Bát-nhã Ba La Mật Đa cố tâm vô quái ngại, vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố viễn ly điên đảo mộng tưởng, cứu cánh Niết-bàn. Tam thế chư Phật, y Bát-nhã Ba La mật đa cố đắc A Nậu Đa La tam miệu tam bồ đề. Cố tri Bát nhã Ba-la-mật-đa, thị Đại thần chú, thị Đại minh chú, thị Vô thượng chú, thị Vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhứt thiết khổ, chơn thiệt bất hư. Cố thuyết Bát-nhã Ba-la-mật-đa chú tức thuyết chú viết: Yết đế, yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha Yết đế, yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha Yết đế, yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha 4. VÃNG SANH TỊNH ĐỘ THẦN CHÚ Nam mô a di đa bà dạ, đa tha dà đa dạ, đa địa dạ tha. A di rị đô bà tỳ, a di rị đa tất đam bà tỳ, A di rị đa, tỳ ca lan đế. A di rị đa tỳ ca lan đa, dà di nị dà dà na. Chỉ đa ca lệ ta bà ha. Nam mô a di đa bà dạ, đa tha dà đa dạ, đa địa dạ tha. A di rị đô bà tỳ, a di rị đa tất đam bà tỳ, A di rị đa, tỳ ca lan đế. A di rị đa tỳ ca lan đa, dà di nị dà dà na. Chỉ đa ca lệ ta bà ha. Nam mô a di đa bà dạ, đa tha dà đa dạ, đa địa dạ tha. A di rị đô bà tỳ, a di rị đa tất đam bà tỳ, A di rị đa, tỳ ca lan đế. A di rị đa tỳ ca lan đa, dà di nị dà dà na. Chỉ đa ca lệ ta bà ha. 5. XƯNG TÁN PHẬT A DI ĐÀ Phật A Di Đà thân kim sắc, Tướng tốt chói sáng tự trang nghiêm Năm Tu-di uyển chuyển bạch hào Bốn biển lớn trong ngần mắt biếc Trong hào quang hóa vô số Phật Vô số Bồ-tát hiện ở trong Bốn mươi tám nguyện độ chúng sanh Chín phẩm sen vàng lên giải thoát Quy mạng lễ A Di Đà Phật Ở phương Tây thế giới an lành Con nay xin phát nguyện vãng sanh Cúi xin Đức Từ Bi tiếp độ. Nam mô Tây phương Cực Lạc thế giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật (c) Nam mô A Di Đà Phật (108 lần) Nam mô Quán Thế Âm Bồ-tát (108 lần) Nam mô Đại Thế Chí Bồ-tát Nam mô Đại Thế Chí Bồ-tát Nam mô Đại Thế Chí Bồ-tát Nam mô Địa Tạng Vương Bồ-tát Nam mô Địa Tạng Vương Bồ-tát Nam mô Địa Tạng Vương Bồ-tát Nam mô Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ tát Nam mô Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ tát Nam mô Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ tát 6. TIÊU TAI CÁT TƯỜNG THẦN CHÚ Nẵng mồ tam mãn đa, mẫu đà nẫm. A bát ra để, hạ đa xá ta nẵng nẩm. Đát điệt tha. Án, khê khê, khê hế, khê hế hồng hồng, nhập phạ ra, nhập phạ ra, bát ra nhập phạ ra, bát ra nhập phạ ra, để sắc sá, để sắc sá, sắc trí rị, sắc trí rị, ta phấn tra, ta phấn tra, phiến để ca thất rị duệ, ta phạ ha. Nẵng mồ tam mãn đa, mẫu đà nẫm. A bát ra để, hạ đa xá ta nẵng nẩm. Đát điệt tha. Án, khê khê, khê hế, khê hế hồng hồng, nhập phạ ra, nhập phạ ra, bát ra nhập phạ ra, bát ra nhập phạ ra, để sắc sá, để sắc sá, sắc trí rị, sắc trí rị, ta phấn tra, ta phấn tra, phiến để ca thất rị duệ, ta phạ ha. Nẵng mồ tam mãn đa, mẫu đà nẫm. A bát ra để, hạ đa xá ta nẵng nẩm. Đát điệt tha. Án, khê khê, khê hế, khê hế hồng hồng, nhập phạ ra, nhập phạ ra, bát ra nhập phạ ra, bát ra nhập phạ ra, để sắc sá, để sắc sá, sắc trí rị, sắc trí rị, ta phấn tra, ta phấn tra, phiến để ca thất rị duệ, ta phạ ha. 7. NGUYỆN AN LÀNH Nguyện ngày an lành, đêm an lành, Đêm ngày sáu thời thường an lành, Tất cả các thời đều an lành, Xin nguyện Từ Bi thường gia hộ. Xin nguyện Từ Bi thường gia hộ. Xin nguyện Từ Bi thường gia hộ. Nam mô Tiêu Tai Giáng Cát Tường Bồ-tát. Nam mô Tiêu Tai Giáng Cát Tường Bồ-tát. Nam mô Tiêu Tai Giáng Cát Tường Bồ-tát. 8. HỒI HƯỚNG Cầu an công đức vô biên Xin đem hồi hướng mọi miền gần xa Chúng sanh pháp giới bao la Đều về Cực Lạc Di Đà Tây Thiên. (C) Nguyện tiêu ba chướng não phiền Nguyện mở trí tuệ vô biên sáng ngời, Nguyện trừ tội chướng bao đời Hành theo Bồ-tát đời đời vị tha. (C) Nguyện sanh Tịnh Độ Di Đà Hoa sen chín phẩm là cha mẹ mình 9. PHỤC NGUYỆN Nam mô Thập phương thường trụ Tam bảo chứng minh, Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Nam mô Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật, Nam mô Đại Từ Đại Bi Tầm Thinh Cứu Khổ Cứu Nạn Quán Thế Âm Bồ-tát chứng minh, hôm nay, đệ tử chúng con một dạ chí thành trì tụng kinh chú, xưng tán hồng danh, cầu nguyện cho Phật tử (họ tên... pháp danh... địa chỉ...), hiện đời phiền não dứt sạch, nghiệp chướng tiêu tan, tật bệnh tiêu trừ, thân tâm thường lạc, gia đình hưng thịnh, quyến thuộc an hòa, pháp giới chúng sanh, trọn thành Phật đạo. 10. TAM TỰ QUY Tự quy y Phật, xin nguyện chúng sanh, thể theo đạo cả, phát tâm vô thượng. (1 lạy) Tự quy y Pháp, xin nguyện chúng sanh, thấu rõ kinh tạng, trí tuệ như biển. (1 lạy) Tự quy y Tăng, xin nguyện chúng sanh, thống lý đại chúng, hết thảy vô ngại. (1 lạy). ――― Ghi chú của ADIDA: Bản văn chép nguyên văn từ nguồn: phatgiao.org.vn (khung nghi thức); phần chính kinh theo bản Việt dịch của Hòa thượng Thích Trí Tịnh. Một vài chỗ có dị bản giữa các ấn bản (cách phiên âm chú, chính tả cũ/mới) đang được Ban Cố vấn Giáo lý ADIDA thẩm định lần cuối; khi có kết luận, bản văn sẽ được cập nhật. Nam mô A Di Đà Phật.

Nghe tụng — các bản thu

Nguồn tham khảo

Bài liên quan